Tin mới

Manchester United Từ A đến Z

Discussion in 'Tư liệu Manchester United' started by raymond_wong, 4 April 2008.

  1. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    Manchester united----> A

    Albiston, Arthur

    [​IMG]

    Quốc tịch: Scotland

    Ngày sinh: 14/7/1957

    Số lần khoác áo: 464 (18)

    Số bàn thắng: 7

    Sinh ra ở Edinburgh, Scotland nhưng Arthur Albiston đã sớm gắn bó với xứ Manchester, anh bắt đầu luyện tập cùng đội trẻ United từ năm 1972, và đến năm 74 Arthur ký hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên với câu lạc bộ, để rồi tiếp tục cống hiến hơn 10 năm nữa cho tới tận mùa giải 88 dưới vai trò hậu vệ cánh..

    Thường được nhắc tới như một người hùng thầm lặng, Arthur luôn tạo được sự chắc chắn và tin tưởng đối với đồng đội, cùng tuýp cầu thủ với Denis Irwin luôn có phong độ ổn định mỗi khi ra sân. Trong lịch sử câu lạc bộ, chỉ có duy nhất 6 cầu thủ có số lần ra sân nhiều hơn Albiston, người đã thi đấu dưới 5 triều đại huấn luyện viên khác nhau ở Old Trafford.

    Anh góp mặt trong 4 trận chung kết cúp FA cùng United và giành chiến thắng 3 lần vào các năm 1977, 1983, 1985, lập kỷ lục mới tại câu lạc bộ về số lần đạt cúp FA vào lúc đó, kỷ lục này sau đó đã được Mark Hughes bắt kịp. Albiston chuyển đến chơi cho West Brom từ mùa giải 1988 khi Sir Alex quyết định tái thiết lại hàng hậu vệ dựa trên các cầu thủ trẻ.




    Anfield



    Sân nhà của đội bóng kình địch Liverpool, sân vận động này có bề ngoài khá tệ bởi kết cấu của 4 mặt xung quanh sân chẳng bên nào khớp với bên nào.Do thiếu tính tổng thể trong ý tưởng và trong cấu trúc nên Anfield luôn tạo ra một cảm giác rời rạc và hỗn độn khi quan sát. Đó có thể chính là lý do khiến Liverpool có ý định chuyển đến một sân vận động mới. Khán đài cũ trên sân Anfield vốn được biết đến với cái tên The Kop, với sức chứa 30 nghìn gián giả,là biểu tượng cho 1 thời kỳ thống trị của Liverpool ở nước Anh những năm 80 giờ đã không còn nữa. Có một thực tế là ngay cả khi Liverpool còn là đội bóng số một ở Anh, United luôn thi đấu rất tốt ở Anfield và không có lý do gì có thể ngăn cản họ tiếp tục làm vậy.






    Atkinson, Ron

    Ron Atkinson là huấn luyện viên trưởng của Manchester United trong suốt thời kỳ 1981-1986, đối với nhiều đội bóng những gì Ron làm đựoc cho Manchester có thể coi là thành công. Dưới sự dẫn dắt của ông, United luôn kết thúc mùa giải ở trong 4 vị trí đầu bảng xếp hạng, ông cũng mang về 2 chiếc cúp FA cho United những năm 83 và 85 ̣(sau một chiến thắng tuyệt vời trước Everton). Tuy nhiên sự kỳ vọng ở Manchester United là khác biệt so với những đội bóng khác,chỉ có chức vô địch mới có thể đem lại sự thỏa mãn cho các cổ & 273;ộng viên quỷ đỏ.



    Big Ron là cái tên mà người ta đặt cho vị huấn luận viên có tính cách hào nhoáng và trực tính này, các cổ động viên United đã rất yêu quý ông cho tới khi..mọi thứ dường như đều đi sai hướng. United vẫn đều đặn kết thúc ở vị trí thứ 3,4 trong các mùa giải trước đó, nhưng tới mùa giải 85-86 United đã có sự khởi đầu trong mơ với chuỗi 10 trận thắng liên tiếp. Người hâm mộ tin rằng cuối cùng thì đã đến lúc United vùng dậy đoạt lại vương miện của bóng đá anh từ kỳ phùng địch thủ Liverpool.Nhưng rồi đội bóng ngày càng xa sút phong độ và kết thúc mùa giải đó với vị trí thứ 4. Các cổ động viên đã hết kiên nhẫn với Big Ron,họ cho rằng đó có lẽ là tất cả những gì mà vị huấn luyện viên này có thể đem lại cho Quỷ đỏ.

    Công bằng mà nói, Atkinson đã chịu một thiệt thòi lớn bởi chấn thương của đội trửong Bryan Robson, người có ảnh hưởng rất lớn đối với đội bóng lúc bấy giờ. Vắng Robson United trở nên bế tắc, và báo chí đã gọi United là “đội bóng một người” ̣(one-man-team).Atkinson là người chi tiêu khá mạnh tay trên thị trường chuyển nhượng. Ông đã không thành công khi mang về những cầu thủ gây thất vọng như Alan Brazil, Colin Gibson và Peter Davenport nhưng với những tài năng như: Robson, Stapleton, Hughes, Whiteside và McGrath đội hình United vẫn có được chất lượng cần thiết, vẫn đều đặn ghi bàn và cống hiến cho khán giả một lối chơi đẹp mắt.


    Có thể chỉ với một chút may mắn nữa,đội hình đó đã có thể trở thành nhà vô địch. Nhưng rất tiếc họ đã không làm được. Giọt nước cuối cùng làm tràn ly xảy đến khi United rớt xuống thứ 19 trên bảng xếp hạng tính tới tháng 11 mùa giải 86. Tới lúc này thì các cổ động viên lẫn ban lãnh đạo đều không còn kiên nhẫn với Big Ron, tuy vậy quyết định sa thải ông vẫn là điều ngạc nhiên đối với nhiều người. Fergie được chỉ định là người kế nhiệm, và tất cả đã trở thành lịch sử. Những thành công đạt được ở cúp FA cùng với United và sau này là với Aston Villa, Sheffield Wednesday đã cho thấy Atkinson phù hợp với những giải đấu loại trực tiếp hơn là những mùa giải dài hơi và căng thẳng. Atkinson sau đó đã tuyên bố giã từ bóng đá và chuyển sang làm bình luận viên bóng đá cho đài ITV.





    Arsenal

    Câu lạc bộ được thành lập năm 1886 với tên gọi Dial Square và ngay sau đó đổi tên thành Arsenal như hiện nay. Trụ sở nằm tại phía bắc của thủ đô London. Biệt danh "The Gunners" - Thùng thuốc súng gắn liền với tên gọi của họ từ khi mới thành lập. Những mùa giải trước, Arsenal thi đấu trên sân vận động Highbury, nhưng đến mùa giải 2006, họ "chuyển nhà" sang sân vận động Emirates hiện đại hơn bởi sân Highbury quá chật, thiếu tiện nghi và không xứng với danh tiếng của câu lạc bộ.

    Arsenal đã giành được 13 chức vô địch quốc gia, 10 cup FA, 2 cup Liên đoàn Anh và 12 siêu cup bóng đá Anh. Mặc dù chơi tưng bừng ở giải trong nước, nhưng khi ra đấu trường châu lục, Arsenal vẫn bị đánh giá là "khôn nhà dại chợ". Họ mới chỉ giành 1 cup UEFA năm 1970 và 1 cup C2 năm 1994. Thành tích tốt nhất mà Arsenal đạt được ở giải Champions League là lọt vào trận chung kết ở mùa giải 2005-2006, nhưng không may họ đã bị đánh bại bởi Barcelona.

    Manchester United và Arsenal là 2 tên tuổi thay nhau thống trị Premiership trong suốt thập niên 90 của thế kỉ trước. Mặc dù không cùng thành phố nhưng trận đấu giữa 2 câu lạc bộ luôn luôn hấp dẫn và không thiếu sự căng thẳng theo tính chất của một trận derby. Máu và nước mắt, nụ cười và những trận tranh cãi, những pha va chạm và những chiếc thẻ, những bàn thắng và những pha biểu diễn đỉnh cao... - tất cả làm nên trận thư hùng giữa 2 đối thủ này. Cuộc chiến giữa Quỷ đỏ và Những khẩu thần công luôn căng thẳng cả trong lẫn ngoài sân cỏ, bởi cuộc đấu trí và đấu "võ miệng" của 2 HLV Wenger và Ferguson, bởi cuộc chiến trong sân giữa cầu thủ 2 đội với sự "cầm đầu" của 2 thủ lĩnh Patrick Vieira bên phía Arsenal và Roy Keane bên phía M.U (hiện nay cả 2 không còn thi đấu cho M.U và Arsenal nữa).

    Chắc chắn các cầu thủ lẫn cổ động viên Arsenal sẽ không thể nào quên 2 trận đấu với Manchester United mùa giải 2004-2005. Trận lượt đi trên sân Old Trafford, chính Van Nistelrooy và Rooney đã ghi 2 bàn thắng, chấm dứt chuỗi 49 trận bất bại của Arsenal, gián tiếp đẩy Những khẩu thần công rơi vào khủng hoảng rồi mất chức vô địch. Trong trận lượt về, các chàng Quỷ Đỏ đã khiến toàn bộ sân vận động Highbury câm lặng và đối thủ Arsenal khóc hận bằng chiến thắng 4-2.
     
  2. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    Aston, John

    [​IMG]


    Quốc tịch: Anh

    Ngày sinh: 28/6/1947

    Số lần khoác áo: 164 (21)

    Số bàn thắng: 27

    John Aston cũng là một sản phẩm của lò đào tạo cầu thủ trẻ United, một tiền đạo trong đội hình vĩ đại của những năm 60. Aston là mẫu cầu thủ nhanh nhẹn và luôn tràn đầy quyết tâm mỗi khi ra sân. Ông cùng với United giành chức vô địch Anh mùa giải 67, nhưng có lẽ Aston sẽ được nhớ đến nhiều nhất bởi phong độ tuyệt vời của ông trong trận chung kết cúp C1 mùa giải 68, đó có lẽ là trận đấu suất xắc nhất trong sự nghiệp cầu thủ của Aston, góp công lớn vào chiến thắng của United.

    AIG


    American International Group (AIG) là tập đoàn đa quốc gia, đứng đầu thế giới về bảo hiểm và dịch vụ tài chính, là tổ chức Bảo hiểm quốc tế hàng đầu hoạt động trên hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các công ty AIG phục vụ khách hàng thương mại, các tổ chức và cá nhân trên mọi lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm và con người với mạng lưới rộng khắp mà không một công ty bảo hiểm nào có được. Tại Mỹ, các công ty AIG là nhà bảo hiểm rủi ro thương mại và công nghiệp lớn nhất. Công ty AIG American General là nhà bảo hiểm nhân thọ đứng đầu. Ngoài ra, các công ty AIG còn là nhà cung cấp hàng đầu về dịch vụ hưu trí, dịch vụ tài chính và quản lý tài sản trên khắp thế giới. Các hoạt động dịch vụ tài chính của AIG bao gồm dịch vụ cho thuê máy bay, các sản phẩm tài chính, thương mại và phát triển thị trường. Công ty American General Finance thuộc AIG đứng đầu thị trường Mỹ về dịch vụ tài chính tiêu dùng toàn cầu. AIG cũng là một trong những nhà cung cấp dịch vụ hưu trí lớn nhất tại Mỹ thông qua hai công ty là AIG SunAmerica và AIG VALIC. Ngoài ra AIG còn là công ty hàng đầu về quản lý tài sản cho các cá nhân và thể nhân với năng lực chuyên nghiệp về quản lý đầu tư trong lĩnh vực cổ phiếu, nguồn thu cố định, các hình thức đầu tư thay thế và bất động sản. Cổ phiếu của AIG được niêm yết tại thị trường chứng khoán New York, ArcaEx, London, Paris, Thụy Sĩ và Tokyo.

    .[​IMG]

    Vào tháng 4/2006, Manchester United đã chính thức kí 1 hợp đồng tài trợ trên áo đấu với Tập đoàn AIG, ngay sau khi chấm dứt hợp đồng với Vodafone. Bản hợp đồng này có thời hạn 4 năm và giá trị lên tới 56,5 triệu bảng Anh (hơn 14 triệu bảng/năm). Đây là hợp đồng tài trợ trên áo kỉ lục tại nước Anh, vượt trên mức 10 triệu bảng Anh của bản hợp đồng tài trợ giữa Samsung và Chelsea kí hồi mùa giải 2004-05.

    AIG là cái tên thứ 3 có trên chiếc áo đỏ truyền thống của CLB Manchester United sau Sharp và Vodafone
     
  3. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    Manchester united ---> B

    Bailey, Gary

    [​IMG]

    Quốc tịch Anh
    Ngày sinh 9/8/1958
    Số lần khoác áo 373
    Số trận giữ sạch lưới 160

    Gary Bailey là thủ thành của United từ năm 1978 đến 1987. Mặc dù sinh ở Ipswich nhưng ông lại là thủ môn từng bắt cho đội trẻ Nam Phi. Bố của ông cũng là một thủ môn và không nghi ngờ gì khi lần xuất hiện đầu tiên trong màu áo Manchester United ông đã thi đấu rất xuất sắc và giữ sạch lưới trong trận thắng Ipswich Town với tỉ số 2- 0 trên sân Old Trafford vào ngày 18 tháng 11 năm 1978.

    Gary là một thủ môn có khả năng rất tốt đặc biệt ông rất hiệu quả trong những pha bóng mặt đối mặt, ông là người đã chơi rất xuất sắc trong những phút cuối trận chung kết FA cúp năm 1983 khi chính ông là người đã từ chối Gordon Smith ghi bàn cho Brighton.

    Ông cũng đã giành được với United hai chiếc cúp FA năm 1983 và năm 1985 sau đó gió dính phải một chấn thương đầu gối khá nặng và đến năm 1987 ông rời câu lạc bộ và người thay thế cũng là một thủ thành nổi tiếng khác người Scotland là Jim Leighton. Gary là cầu thủ đã may mắn được thi đấu dưới quyền chỉ đạo của 3 huấn luyện viên đó là Dave Sexton, Ron Atkinson và huấn luyện viên của United hiện nay là Sir Alex Ferguson. Hiện nay cộng việc của ông là một người làm truyền hình ở Nam Phi về các show truyền hình của giải Premier League.



    Barthez, Fabien

    [​IMG]

    Quốc tịch Pháp
    Ngày sinh 28/6/1971
    Số lần khoác áo 138
    Số trận giữ sạch lưới 48

    Fabien Barthez là người đã giành cúp vàng France 98 với đội tuyển Pháp, cầu thủ đã làm cho các fans hâm mộ nhớ đến nghi thức kỳ lạ trước mỗi trận đấu của đội tuyển Pháp là đội trưởng Blanc ra hôn vào chiếc đầu nhẵn bóng của Barthez. Anh đến sân Old Trafford vào hồi tháng 8 năm 2001 với một sự nổi tiếng về những đặc điểm trong tính cách kỳ lạ của mình. Tuy nhiên mùa giải đầu tiên của anh là một mùa giải chiến thắng khi đó anh đã trả lời tất cả những câu hỏi về sự so sánh cách bắt bóng trong điều kiện thời tiết nhiều mưa ở Manchester so với nơi có nhiều ánh nắng như Monaco nơi anh thi đấu trước kia. Barthez đã có những màn trình diễn và toả sáng trong suốt mùa giải đầu tiên và anh ngày càng được nhiều các fans hâm mộ tôn vinh làm thần tượng. Các fans đặc biết rất thích cái tính cách kỳ quái ở anh, Barthez thường có những pha rê rắt bóng châm chọc đối phương và anh cũng đã từng thi đấu trên hàng tiền đạo cho manchester United trong các trận đấu tập, tuy không được nhắc đến như là cầu thủ quan trong nhất những anh là nỗi kinh hoàng của các tiền đạo đối phương nhất là những pha bóng đối mặt. Cách bắt bóng của anh cũng rất hay bị báo giới chỉ trích khi lối bắt bóng bay bướm của anh cũng thỉnh thoảng là nguyên nhân gây ra những bàn thua không đáng có của Manchester United.

    Mùa giải 2001 – 2002 của anh được chia là 2 phần. Nửa đầu mùa giải là những cơn ác mộng. Thủ môn người Pháp này thi đấu với lối bắt bóng rất kỳ quái và anh ta cũng rất thích những pha bóng băng ra khỏi ngoài vòng cấm và tìm cách rê rắt bóng qua tiền đạo đối phương. Trong trận đấu với Arsenal anh đã biếu không cho tiền đạo đối phương hai bàn thắng từ những lỗi lầm rất kỳ quái của mình và kết thục trận đấu với phần thắng 3 – 1 nghiêng về Arsenal, ở sân Anfiend anh cũng tặng cho Liverpool một bàn thắng sau một pha băng ra lóng ngóng, ngoài ra còn kể thêm những lỗi lầm trong trận đấu với Deportivo tại Champions League khi anh cùng với Wes Brown đã hào phóng tặng cho đội bóng Tây Ban Nha 2 bàn thắng hết sức dễ dàng.

    Đã có nhiều suy đoán xem phong độ ngày càng đi xuống của Barthez bắt nguồn từ đâu và đã có những lời khuyên được chuyển tới anh, cũng có những lời nói tỏ ý muốn bán anh cho những đội bóng khác.Nhưng Sir Alex Ferguson vẫn rất tin tưởng vào tài năng của thủ thành người Pháp này. Bởi vậy trong phần còn lại của mùa giải Barthez đã sửa chữa những lỗi lầm của mình bằng việc thi đấu với một phong độ đỉnh cao, lối bắt bóng chắc chắn và cũng rất hoa mỹ và anh lại ngày càng nổi tiếng hơn trước.

    Mùa giải 2002 – 2003 Barthez cùng với những hậu vệ của United tạo nên hàng phòng ngự chắc chắn nhất Premiership. Thời điểm đó Barthez đã có một cú đẩy bóng vô cùng khó tin trước cú rocket từ cự ly gần 30m của Deitmar Hamman trên sân Anfiend và giúp cho Man United giành chiến thắng với tỉ số 2 – 1.

    Sau đó anh cũng đã bị nhận rất nhiều những lời chỉ trích sau khi Manchester United bị câu lạc bộ Real Madrid loại khỏi vòng tứ kết Champions League nhất là khi anh đã để cho Ronaldo ghi được hai bàn thắng từ những cự ly gần. Và những sai lầm đó của anh đã làm cho huấn luyện viên trưởng dần mất hết kiên nhẫn với anh. Sir Alex Ferguson đã bỏ rơi anh trong 3 giải đấu của mùa giải tiếp theo và ông cũng đã lên phương án dự phòng bằng cách ký hợp đồng với thủ môn người Mỹ Tim Howard. Cuối cùng là Barthez được đem cho câu lạc bộ ở quê hương anh là Marseille muợn hồi tháng 1 năm 2004 và anh cũng được câu lạc bộ giải thoát khi giải phóng hợp đồng với United.





    Blanc, Laurent

    [​IMG]

    Quốc tịch Pháp
    Ngày sinh 19/11/1965
    Số lần khoác áo 71 (4)
    Số bàn thắng 4

    Trước khi ký hợp đồng với Manchester United Sir Alex Ferguson đã từng 3 lần cố gắng lôi kéo trung về kỳ cựu người Pháp này về thi đấu cho đội bóng chủ sân Old Trafford nhưng không thành công. Nhưng sau sự ra đi đột ngột của trung vệ Japp Stam, United cần có sự thay thế xứng đáng trong vòng 5 ngày trước khi thị trường chuyển nhượng đóng cửa. Cuối cùng trong lần thuyết phục thứ 4 với Blanc ngài Ferguson cũng được toại nguyện khi Blanc ký hợp đồng thi đấu chính thức với United với một bản hợp đồng chuyển nhượng tự do vào ngày 30 tháng 8 năm 2001. United là điểm dừng chân thứ 9 của Blanc trong suốt sự nghiệp thi đấu bóng đá đỉnh cao lẫy lừng của mình kể từ năm 1983.

    Các cổ động viên của United cũng cảm thấy rất lo lắng về vấn đề tuổi tác của Laurent Blanc, cái tuổi mà sức mạnh lẫn tốc độ đã bị giảm sút đi rất nhiều. Blanc nhanh chóng là trung tâm của những lời chỉ trích mỗi khỉ câu lạc bộ để lọt lưới nhiều bàn thua. Nhưng thật là không công bằng cho anh khi anh đã không mắc phải những lỗi lầm quá nghiêm trọng trong suốt một thời gian dài, vấn đề ở đây là những hậu vệ chơi quanh anh đã thi đấu không tốt và những lời chỉ trích thường dành cho những người mới đến như anh.

    Trong phần còn lại của mùa giải United đã giải quyết những được những khó khăn của hàng phòng ngự và Blanc với vóc dáng của mình đã thi đấu khá mạnh mẽ và chắc chắn. Blanc gây ấn tượng với mọi người bằng khả năng không chiến cực tốt và anh cũng đã ghi được cho United từ những pha đánh đầu sau những quả phạt góc Blanc là cầu thủ có phong cách thi đấu rất điềm tĩnh trước những sức ép từ nhiều phía. Các cổ động viên của Manchester United thường gọi anh với biệt danh “Larry White” và anh vẫn rất nổi tiếng với “nghi thức hôn đầu Barthez trước mỗi trận đấu” cho dù anh chỉ thực hiện chúng khi được thi đấu tại đấu trường Champions League.

    Vào tháng 7 năm 2002, sau những lời động viên từ Sir Alex Ferguson, Laurent đã trì hoãn ý định từ giã sân cỏ và đồng ý ký tiếp một bản hợp đồng mới với United thêm 1 năm nữa. Sau khi chơi những trận đấu đầu tiên của mùa giải 2002 – 2003 lúc đấy Blanc đã bước vào tuổi 37, anh thi đấu bằng lòng nhiệt tình và nguồn kinh nghiệm dồi dào của mình. Sau khi dành chức vô địch Premiership trong mùa giải năm 2003 cùng với United, cuối cùng anh cũng đã quyết định từ giã sân cỏ và đóng lại sự nghiệp lẫy lừng kéo dài suốt hai thập kỷ.
     
  4. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    Blanchflower, Jackie

    Quốc tịch Bắc Ailen
    Ngày sinh 7/3/1933
    Số lần khoác áo 116
    Số bàn thắng 27

    Là một tiền vệ Jackie là cầu thủ thuộc đội hình Busby Babe. Tiền vệ cánh phải này đã giành chức vô địch Anh năm 1956 và cúp FA năm 1957 với Manchester United. Trong trận chung kết cúp FA năm 57 gặp Aston Villa Jackie chính là thủ môn của United trong những phút cuối trận khi mà thủ môn chính thức bị chấn thương và đội bóng lúc đó đã hết quyền thay người. Ông chính là người đã giúp cho đội tuyển Bắc Ailen giành chiến thắng đầu tiên trước đội tuyển Italia năm 1958, nhưng chấn thương sau vụ tai nạ tại đường bằng Munich đã làm cho Jackie không bao giờ có thể quay trở lại với trái bóng.





    Blomqvist, Jesper

    Quốc tịch Thuỵ Điển
    Ngày sinh 15/2/1975
    Số lần khoác áo 29 (9)
    Số bàn thắng 1

    Một ngôi sao trẻ của bóng đá Thuỵ Điển, Jesper Blomqvist đến Manchester United với giá ?4,4 triệu bảng bên cạnh những bản hợp đồng mới với Stam và Yorke mùa thu năm 1998. Anh là một cầu thủ rất kỹ thuật, là một cầu thủ chạy biên trái rất tốt với những pha chuyền bóng chuẩn xác. Blomqvist cũng là cầu thủ có mặt trong đội hình dành cú ăn 3 vĩ đại của Manchester United mùa giải 1998 – 1999, anh là cầu thủ đã có những pha đi bóng khá đẹp mắt trong trận chung kết Champions League gặp Bayern Munich trên sân vận động Nou Camp năm 1999. Một vài tháng sau anh đã phải trải qua những ngày tháng đau khổ khi gặp một chấn thương nặng ở mắt cá chân và 2 năm sau sự cố gắng đã đưa anh trở lại với trái bóng và anh rời Manchester United chuyển sang câu lạc bộ Everton với một bản hợp đồng chuyển nhượng tự do vào tháng 11 năm 2001.



    Bosnich, Mark

    Quốc tịch Úc
    Ngày sinh 13/1/1972
    Số lần khoác áo 37
    Số trận giữ sạch lưới nhà 14

    Bosnich là cầu thủ đã từng hai lần thi đấu trong màu áo Manchester United và cả hai lần anh đều thi đấu không thành công. Anh đã từng gia nhập đội trẻ của Manchester United năm 1989 và sau 3 lần được ra sân anh đã chuyển sang câu lạc bộ Aston Villa. Ở đấy anh đã xây dựng cho mình được sự nghiệp của một thủ môn hàng đầu. Anh ta trở lại United với bản hợp đồng chuyển nhượng tự do năm 1999 để thay thế cho vị trí của thủ môn huyền thoại Peter Schmeichel và anh được liệt vào danh sách những cầu thủ xuất sắc nhất. Nhưng huấn luyện viên trưởng Sir Alex Ferguson không thích thái độ thi đấu của Bosnich. Sau khi có sự xuất hiện của thủ thành người Pháp Fabien Barthez những ngày tháng cuối cùng ở sân Old Trafford đối với Bosnich đã kết thúc và anh buộc phải chuyển sang chơi cho Chelsea tháng 1 năm 2001 với một bản hợp đồng chuyển nhượng tự do.



    Brennan, Shay




    Quốc tịch Cộng hoà Ailen
    Ngày sinh 6/5/1937
    Số lần khoác áo 355 (1)
    Số bàn thắng 6

    Là một cầu thủ trẻ thi đấu đầy sáng tạo của United, hậu vệ Brennan là người đã giành được hai chức vô địch Anh với Manchester United năm 1965 và 1967 cũng như giành được chức vô địch châu Âu năm 1968.
    Brennan trở thành chìa khoá của những chiến thắng giữa những năm 60 với thể hình rắn chắc và một lối chơi phù hợp.Anh có khả năng cung cấp bóng nhanh cho hàng tiền đạo và khả năng đối đầu với tiền đạo đối phương rất tốt, Brennan là vật quý của cả đội tuyển quốc gia CH Ailen cũng như câu lạc bộ Manchester United.
    Sinh ra ở Manchester hậu vệ này lại chơi cho đội tuyển CH Ailen, trong suốt sự nghiệp thi đấu ông đã từng chơi cho CH Ailen 19 trận đấu.
    Vào năm 1986 một đám đông 10000 người đã có mặt tại Dublin để chứng kiến trận thi đấu từ thiện tôn vinh những huyền thoại. Brennan qua đời vào tháng 6 năm 2000.



    Buchan, Martin

    Quốc tịch Scotland
    Ngày sinh 6/3/1949
    Số lần khóac áo 455
    Số bàn thắng 4

    Buchan là cầu thủ đến với United với giá chuyển nhượng kỷ lục lúc bấy giờ là 125 nghìn bảng Anh. HLV Frank O’Farrell đã mang Martin đến Anh từ câu lạc bộ Arbedeen của Scotland hồi tháng 3 năm 1972 nhằm hình thành một nền tảng cho hàng phòng ngự mới của Manchester United. Mặc dù lúc đấy Martin mới 23 tuổi nhưng anh đã dành được vô khối thành công với đội bóng cũ của mình, anh đã từng giành được chức vô địch quốc gia Scotland và được bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trong năm của Scotland.

    Là một cầu thủ chất lượng và có sự chín chắn trước tuổi, United cảm thấy rất may mắn khi có được anh với cái giá 125 nghìn bảng, và hiếm khi câu lạc bộ có được những hợp đồng vớ bở đến vậy. Martin đã thi đấu cho câu lạc bộ suốt một thời gian dài từ những lúc khó khăn khi phải xuống hạng hay những giây phút vinh quang khi giành được chiếc cúp FA năm 1977 sau khi giành thắng lợi với tỉ số 2 – 1 trước Liverpool.
    Buchan đã thi đấu tổng cộng 11 năm cho Manchester United và 6 năm trong số đó anh là đội trưởng của câu lạc bộ. Anh đã từng chơi trong 3 trận chung kết, cuối cùng anh rời United năm 1983 sau những vấn đề về chấn thương. Một thập kỷ ở United chàng trai Scotsman này trở thành một trong những cầu thủ quan trọng của câu lạc bộ. Chàng trai đến từ Arbedeen phải được thừa nhận là một trong những người đội trưởng vĩ đại nhất của United, 1 cầu thủ điềm tĩnh, 1 hậu về huyền thoại và một người đứng đầu vĩ đại.



    Busby, Sir Matt

    [​IMG]

    Là huấn luyện viên thành công và đáng yêu nhất của MU trong 100 năm qua, Matt Busby đã thành lập được 3 đội bóng vĩ đại cho từng thập kỷ, thời kỳ mà ông phụ trách. Mặc dù ông thừa hưởng 1 SVĐ bị tàn phá bở bom đạn nhưng lại xây dựng một CLB trở thành một tổ chức.

    Là con trai của người thợ mỏ, Busby sinh ra ở làng Oriston, gần Glasgow. Ông chơi cho Denny Hibs,một đội bóng địa phương. Năm 17 tuổi ông gia nhập CLB Manchester City, sau đó ông thi đấu cho CLB Liverpool cho đến chiến tranh thế giới thứ 2, khi ông phục vụ trung đoàn Liverpool của nhà vua và việc tại Viện Đào Tạo TDTT quân đội . Sau chiến tranh, Busby đồng ý làm việc ở Old Trafford và xây dựng một đội bóng thành công đầu tiên. Năm 1948, ông giành cup FA lần đầu tiên đánh bại Blackpool 4-2 trong trận chung kết. Tại giải vô địch Anh, đội quân của ông đứng thứ nhì 4 lần trong 5 mùa giải và cuối cùng giành chức vô địch năm 1952 và ông chủ trương xây dựng một thế hệ những cầu thủ trẻ tài năng. MU giành cup thanh niên FA trong 5 màu bóng đầu tiên từ 1952-1957 với những cầu thủ nồng cốt cho đội bóng trẻ được nổi tiếng với tên “Busby babes”. Mùa bóng 1956/1957 MU đặt quyết tâm giành chiến thắng kép đầu tiên của thế kỷ trong giải vô địch và cup FA, nhưng lại để tuột vào tay Aston Villa. Trái với ý muốn Liên Đoàn bóng đá Anh, Busby đưa MU tham dự giải Cup Châu Âu năm 1956 và lọt vào vòng bán kết. Một năm sau đó thảm hoạ máy bay ở Munich ập đến, Busby bị tổn thương trầm trọng về mặt tinh thần và khi bình phục lại, ông gần như thờ ơ với bóng đá. Ông được thuyết phục tiếp tục và bắt đầu xây dựng đội bóng. Năm 1963 ông chứng kiến đội bóng của mình đoạt cup FA ( thắng Leicester 3-1 ở trận CK). Sự xuất hiện của George Best giúp đội bóng thứ 3 của Busby giành chức vô địch năm 1967. Năm 1968 Chức vô địch lần thứ 5 đã đưa ông đến thành công vĩ đại nhất của mình; MU trở thành đội bóng đầu tiên đoạt cup Châu Âu. Busby từ bỏ nghề huấn luyện viên cuối năm 1968-1969 mặc dù ông vẫn lại một lần nữa nắm quyền khi Mc Guinness bị sa thải tháng 12 năm 1970. Được tặng giải thưởng CBE vào năm 1958, Busby được phong tước “Hiệp sĩ” vào tháng 1/1968 và năm 1972 ông được phong danh hiệu “Hiệp sĩ” do thánh Gregory trao tặng,1 trong những phần thưởng cao quí nhất của nhà thờ Thiên Chúa Giáo. Sir Matt busby trở thành Chủ tịch đầu tiên của MU sau khi thành lập hội đồng năm 1979. Ông nắm chức vụ này cho đến khi mất ngày 20/1/1994. Để ghi nhận mọi công lao đóng góp to lớn của ông, sau này tên của ông đã được đặt cho một đường phố ở thành phố Manchester ngay cạnh cầu trường Old Trafford.
     
  5. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    Beckham, David

    [​IMG]

    Quốc tịch Anh
    Ngày sinh 02/5/1975
    Số lần khoác áo 348 (79)
    Số bàn thắng 84

    Không phải giỏi nhất, nhưng David Beckham là cầu thủ nối tiếng nhất, và cũng giàu có nhất trong thế giới bóng đá hiện đại. Trong các vận động viên thể thao, không có ai được thần tượng hoá đến cuồng nhiệt như anh, không có ai được nhắc đến hằng ngày trên mặt báo như anh.

    Vâng, không cần tới những ánh hào quang hậu trường, Beckham vẫn là 1 trong những cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử MU. Ở vị trí tiền vệ cánh phải, khả năng kiến thiết bóng của anh phải gọi là…trên cả tuyệt vời. Những đường chuyền dài do Beckham thực hiện chính xác đến từng ly, và những cú lật bóng bên biên phải của anh luôn nguy hiểm chết người. Ở thời kỳ hoàng kim tại MU, Beckham được coi là cầu thủ tạt bóng số 1 trên thế giới, mỗi lần anh tạt bóng là mỗi lần khung thành đối phương chao đảo. Bất kể là Cole, Yorke, Nistelrooy, hay 1 tiền đạo nào khác của MU, ai cũng đều muốn chơi cùng Beckham, vì mỗi đường chuyền của Beckham thường tìm đến rất đúng chỗ của tiền đạo, chứ không bắt họ phải di chuyển để bắt kịp. Tỷ lệ chuyền bóng thành bàn của Beckham là cao nhất ở nước Anh.Bên cạnh đó, với không ít người, Beckham cũng là cầu thủ đá phạt hay nhất thế giới. Những cú sút xoáy vòng, đưa bóng vọt qua hàng rào phòng thủ đối phương rồi rơi đúng vào góc thượng khung thành là 1 “sản phẩm độc quyền” của anh. Rất, rất nhiều lần anh đã ghi những bàn thắng tuyệt đẹp như thế.

    Dĩ nhiên, là cầu thủ thường chẳng có ai hoàn hảo, điểm yếu của Beckham là kỹ thuật cá nhân không cao. Tuy thế, cũng không nên quá cầu toàn, có được kỹ năng chuyền bóng và sút phạt như anh cũng đã là quá đủ cho 1 tiền vệ.

    David Robert Joseph Beckham sinh ngày 2 tháng 5 năm 1975 tại London. Năm 1986,anh giành giải nhất trong cuộc thi năng khiếu bóng đá nhi đồng mang tên Bobby Charlton Soccer Skills, và do đó lọt vào tầm ngắm của các nhà tuyển trạch Manchester United. Năm 12 tuổi, anh đã được ngài Alex Ferguson đánh giá là 1 ngôi sao tương lai. Có điều, do bị gia đình buộc phải học xong trung học, mãi đến năm 1991, Beckham mới ký hợp đồng tập sự cùng MU. Ngày 23 tháng 9 năm 1992 đánh dấu lần đầu tiên anh được chơi ở đội lớn, khi ra sân với tư cách cầu thủ dự bị trong trận gặp Brighton. Tuy nhiên, phải đợi tới 2 năm sau, Beckham mới được ra quân trong đội hình chính thức của Quỷ Đỏ, trong trận gặp Galatasaray tháng 11-1994.

    Sau trận ra quân ấy, Beckham chuyển tới Preston NE theo hợp đồng cho mượn. Anh thi đấu 5 trận tại đây trước khi trở về Old Trafford vào tháng 4-1995. Trận gặp Leeds cùng tháng chính là trận đầu tiên anh chơi đủ 90 phút ở giải ngoại hạng. Sang đến năm 1996, sau sự ra đi của Andrei Kanchelskis, Beckham được ngài Ferguson tín nhiệm giao trấn giữ hành lang phải, mặc dầu vị trí ưa thích của anh là tiền vệ trung tâm. Anh đã hoàn thành xuất sắc trách nhiệm, và góp công đưa MU giành cú đúp VDQG cùng cúp FA. Trong trận bán kết cúp FA gặp Chelsea, chính Beckham là người ghi bàn gỡ hoà.

    Beckham thật sự vươn lên hàng ngũ siêu sao trong mùa 1996-1997, sau bàn thắng “không tưởng” từ cú lốp bóng 55m tung lưới Wimbledon. Cho đến nay, đây vẫn là bàn thắng đẹp nhất trong sự nghiệp của anh. Mùa bóng tiếp tục với Beckham cùng những màn trình diễn tuyệt vời và những cú sút xa ngoạn mục. Phần thưởng cho anh là danh hiệu Cầu Thủ Trẻ Xuất Sắc Nhất Nước Anh, cùng chức VDQG lần thứ 2 liên tiếp. Cũng năm 1997, anh bắt đầu quen Victoria Adams, nhờ VIC, Beckham bắt đầu nổi tiếng trong ngành công nghiệp giải trí, và nhờ Beckham, Adams được biết đến nhiều hơn trong lãnh vực thể thao. Danh tiếng của cả hai đều được nâng cao nhờ mối tình lãng mạn.

    Sau mùa bóng 1998 đầy thất vọng, Beckham đạt đến đỉnh cao phong độ của mình. Chưa bao giờ anh lại chơi hay đến như mùa 1998-99i. Danh hiệu Vua Đá Phạt Của Beckham được khẳng định với hàng loạt các cú sút siêu đẳng vào lưới Leicester, Aston Villa, Barcelona, Brondby, và Everton. Những bàn thắng quan trọng của MU trước Inter Milan, Liverpool, và Barcelona đều xuất phát từ những đường kiến thiết của anh. Đích thân Beckham cũng ghi những bàn quan trọng từ các pha bóng sống, chẳng hạn như bàn thắng trong trận bán kết cúp FA với Arsenal, hay trong trận quyết định ngôi VDQG với Totteham. Trong lần gặp gỡ không thể nào quên với Bayern Munich ở chung kết Champions League, cả 2 bàn thằn Quỷ Đỏ ghi được đều xuất phát từ các quả phạt góc do Beckham thực hiện. Năm 1999 kết thúc với Beckham và MU trên đỉnh cao của thế giới, cùng 4 danh hiệu VDQG, Cúp FA, Champions League và Cúp Liên Lục Địa. Beckham là ứng viên nặng ký cho danh hiệu Cầu Thủ Xuất Sắc Nhất Thế Giới của FIFA và Xuất Sắc Nhất Châu Âu của France Football, nhưng đáng tiếc là 2 lần đều phải về nhì, sau Nghệ Sỹ Sân Cỏ Rivaldo.

    Mùa 1999-2000 khởi đầu thất vọng cho Beckham. Bất hoà với HLV Ferguson làm dậy lên những tin đồn về việc chuyển nhượng của anh sang Barcelona, Inter Milan, và thậm chí cả Arsenal. Nhưng sau khi giảng hoà cùng ngài Alex, Beckham lại trở về với phong độ vốn có, và những quả đá phạt chết người lại được tung ra vào lưới Croatia Zagreb, Leicester, West Ham và Southampton. Trong những năm cuối ở MU, những đường chuyển của Beckham bớt phần sắc sảo, nhưng bù lại, anh ghi bàn nhiều hơn. Đặc biệt trong mùa 2001-02, anh ghi được đến 16 bàn, trong đó có cú sút xa 30m tuyệt đẹp vào lưới Deportivo, và cú lốp bóng 25m qua đầu David James của West Ham. Trong năm 2001, lần thứ 3 liên tiếp Beckham giành danh hiệu VDQG cùng MU.

    Nhưng rồi những chuyện hậu trường có lẽ đã làm Beckham xao lãng mất bóng đá. Hết lo xuất bản tự truyện, xuất hiện trên truyền hình, anh lại lao vào đóng quảng cáo cho Adidas và Pepsi. Trong những chuyến du đấu cùng MU ở châu Á, Beckham được chào đón không thua gì The Beatles, nhưng phong độ anh đã không còn được như xưa. Trong nửa cuối mùa 2001-02, HLV Ferguson nhiều lần để anh trên ghế dự bị. Rồi những chấn thương lỉên tiếp vào các năm 2002, 2003 khiến Beckham càng ít xuất hiện trong màu áo đỏ hơn. Thêm vào đó, mâu thuẫn giữa anh và Ferguson lại bùng nổ. Mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm vào tháng 2-2003, khi ngài Alex sút chiếc giày vào mặt Beckham sau trận Mu thua Arsenal 0-2. Câu chuyện này lập tức trở thành tâm điểm của báo giới, và ai cũng dự đoán việc Beckham rời Old Trafford chỉ còn là vấn đề thời gian. Quả nhiên đến tháng 7 cùng năm, Beckham chuyển đến Real Madrid với giá 24.5 triêu bảng. Mùa bóng đầu tiên của anh tại Madrid không thành công lắm.

    Trong màu áo đội tuyển Anh, cho đến nay Beckham đã chơi được 94 trận, ghi 13 bàn, tham gia 3 kỳ World Cup 1998-2002 - 2006, 2 kỳ Euro 2000-2004. Kể từ tháng 1-2001, anh giữ vai trò thủ quân đội tuyển quốc gia. Tuy luôn được tín nhiệm, nhưng đáng buồn thay, Beckham thường gây thất vọng ở những giải đấu lớn. Tại World Cup 1998, anh bị chỉ trích khá nhiều sau khi nhận thẻ đỏ vì đánh nguội Diego Simeone của Argentina, ở Euro 2004 thì sút hỏng 2 cú phạt đền, góp phần lớn giúp…Anh về nước. Điểm sáng trong sự nghiệp quốc gia của Beckham là khi anh sút phạt ghi bàn gỡ hoà 2-2 trước Hy Lạp, đưa Anh vào thẳng vòng chung kết World Cup 2002, và sau đó lại ghi bàn duy nhất vào lưới Argentina tại vòng chung kết này.

    Trận thua Bồ Đào Nha tại tứ kết WC 2006 là lần cuối cùng becks đeo chiếc băng đội trưởng đội tuyển "3 chú sư tử". 1 trận đấu buồn bởi đội tuyển của anh bị thất bại còn anh gặp chấn thương và không thể sát cánh chiến đấu cùng các đồng đội. Đó sẽ mãi mãi là kỉ niệm không thể nào quên trong sự nghiệp của anh.

    Đã đạt rất nhiều thành công ở cấp câu lạc bộ, nhưng khi khoác trên mình chiếc áo của đội tuyển quốc gia, dường như "duyên" và may mắn vẫn chưa đến với anh...

    Danh hiệu cùng Manchester United

    1992 Cúp FA Trẻ
    1996 VDQG
    1996 F.A. Cup
    1997 VDQG
    1999 VDQG
    1999 F.A. Cup
    1999 Champions League
    1999 Cúp Liên Lục Địa
    2000 VDQG
    2001 VDQG
    2003 VDQG
     
  6. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    Busby Babes

    [​IMG]

    Một tối vào năm 1953, Sir Matt Busby đã ném cuốn sổ ghi nhớ của các HLV qua cửa sổ và ngay ngày hôm sau, ông đã thay thế toàn bộ số cầu thủ kỳ cựu trong đội hình Man Utd lúc đó bằng những cầu thủ trẻ. Trẻ tuổi, năng động và tỏa sáng là những phẩm chất của lứa cầu thủ này đó là những thứ đã xây dựng thành một đội quân huyền thoại trong lịch sử Man United với tên gọi Busby Babes (Những Cậu Bé Của Busby), bao gồm những danh thủ như Duncan Edwards, Bobby Charlton, Tommy Taylor, Jackie Banchflowers,...

    Tuy nhiên vào ngày Ngày 5/2/1958, Manchester United hòa Red Star Belgrade 3-3 tại Nam Tư và giành quyền lọt vào bán kết cúp C1 với tỷ số chung cuộc 5-4. Đây chính là trận đấu cuối cùng mà thế hệ huyền thoại Busby Babes còn đủ mặt anh tài.

    Đội hình ra sân trong trận đấu ngày hôm ấy gồm có:Gregg, Foulkes, Byrne, Edwards, Jones, Coleman, Morgans, Charlton, Taylor, Viollet, và Scanlon, còn các cầu thủ dự bị là Blanchflower, Bent, Whelan, Wood, Pegg và Berry. Trong 3 bàn thắng của MU, có 2 bàn của Bobby Charlton, và 1 bàn của Dennis Viollet.

    Trên đường trở về Anh 1 ngày sau trận hòa với Red Star, thảm kịch đã xảy đến với Manchester United, khi chiếc máy bay chở họ gặp nạn trên đường băng Munich.



    Butt, Nicky

    [​IMG]
    Quốc tịch Anh
    Ngày sinh 21/1/1975
    Số lần khoác áo 298 (79)
    Số bàn thắng 23

    Nicky Butt ký hợp đồng với Manchester United khi còn là một cầu thủ trẻ hồi tháng 7 năm 1991 sau khi đã chơi cho Oldham và đội bóng Greater Manchester Schoolboys. Anh cũng đã đóng góp một phần công sức của mình cho thành công của đội trẻ khi giành được chiếc cúp FA trẻ năm 1992, Butt là người đã ghi 2 bàn thắng trong trận chung kết vòng 1 trước Crystal Palace.

    Trận đấu chính thức đầu tiên mà Butt tham dự là trận đấu vào ngày 21 tháng 11 năm 1992, Butt được vào sân thay cho Paul Ince ở phút thứ 65 trong trận đấu với Oldham Athletic. Vào cuối mùa giải 94 – 95 Butt đã kiếm cho mình được một vị trí ở câu lạc bộ trong trận chung kết cúp FA, nhưng kết thúc trận đấu với phần thua nghiêng về United khi để thua Everton với tỉ số 0 – 1.

    12 tháng sau Butt dành được danh hiệu FA cup hiệu đầu tiên trong bộ sưu tập của mình sau đó anh cũng giành thêm được 1 cú đúp cho riêng bộ sưu tập các danh hiệu của mình. Khi Roy Keane bị vắng mặt vì chấn thương trong mùa giải 1997 Butt đã nổi danh từ đây ở vị trí tiền vệ trung tâm bên cạnh Ronny Johnsen.

    Butt là cầu thủ có khả năng thu hồi bóng tốt hơn là khả năng kiến thiết nên anh thường xuyên là cầu thủ thi đấu bên trên hàng phòng ngự của đội nhà. Vai trò của anh như một cái mãy quét ở giữa sân, với vẻ ngoài rất thư sinh nhưng Butt cũng có thể kiêu hãnh với những pha chuyền bóng rất thông minh và kỹ thuật và đặc biệt là anh luôn luôn xuất hiện tại tất cả các điểm nóng trên sân.

    Trong mùa giải đoạt cú ăn 3 năm 1999 người ta thấy anh xuất hiện có phần ít đi những anh vẫn là cầu thủ rất xuất sắc với những màn trình diễn đỉnh cao trước những đội bóng như Leeds, Juventus, Arsenal hay Liverpool. Khi Keane và Scholes phải vắng mặt trong trận chung kết Champions League 1999 do bị treo giò, Butt đã trở thành cầu thủ vô giá thi đấu ở vị trí tiền vệ trung tâm trong đội bóng.

    Mùa giải 1999 – 2000 Butt được ra sân trong 21 trận đấu trong đó có 11 lần thay người tất nhiên anh vẫn đóng một vai trò quan trọng trong những chiến thắng của đội nhà. Butt đã có những bàn thắng rất quan trọng vào phút cuối trọng trận gặp Sunderland trên sân khách ngoài ra anh còn có được những bàn thắng vào lưới các câu lạc bộ như Derby, Vasco, và Sunderland trên sân nhà. Ở mùa giải tiếp theo anh đã ghi được bàn thắng đầu tiên trên đấu trường châu Âu trong trận tiếp đối thủ đến từ nước Áo Sturm Graz trên sân nhà, trong mùa giải này anh đã ra sân trong 41 trân đấu và kết thúc mùa giải với một chức vô địch Premiership cùng với United. HLV trưởng của đội tuyển Anh cũng gọi Butt vào thi đấu trong những trận tuyển Anh gặp Albania, Tây Ban Nha và Phần Lan.

    Mùa giải 2001 – 2002 là một mùa giải tương đối xuất sắc với Butt khi anh được 31 lần ra sân thi đấu và vị trí của anh trên hàng tiền vệ United ngày càng được coi trọng. Đã có nhiều dự đoán cho rằng khi Juan Sebastien Veron đến United cũng sẽ là lúc Butt kết thúc sự nghiệp cầu thủ của mình trên sân Old Trafford nhưng anh đã chứng minh cho những người chỉ trích là sai lầm với những màn trình diễn chất lượng cao đầy ấn tượng (điều mà Veron đã không làm được tại Old Trafford)

    Vì vậy anh cũng được chơi cho đội tuyển Anh tại VCK World Cup 2002 tại Nhật Bản và Hàn Quốc. Những màn trình diễn của anh tại giải đấu này ấn tượng và đáng chú ý, trên thực tế vua bóng đã Pele đã từng nói rằng Butt là cầu thủ của giải đấu này và anh cũng đã nhận được những lời ca ngợi từ các cổ động viên và những nhà phê bình sân cỏ. Trớ trêu thay Butt đã phải gánh chịu một trấn thương mắt cá chân trong lúc thi đấu cho đội tuyển Anh trong trận đấu với tuyển Macedonia, chấn thương đó đã phá vỡ mùa giải 2002 – 2003 của Nicky Butt.

    Trong mùa giải tiếp theo ở United những lần được ra sân của Butt ngày càng ít đi và vị trí thường xuyên cả anh là ở trên băng ghế dự bị. Kể từ khi Man United có thêm Djemba và Kleberson vị trí tiền vệ phòng ngự của United lại trở nên rất dư thừa cầu
    thủ.

    Những tin đồn rằng Butt sẽ chuyển sang Birmingham hay Middlesbrough đã rộ lên trong tháng 1 năm 2004. Nhưng anh vẫn quyết định ở lại thêm để chiến đấu giành lại vị trí, cuối cùng anh cũng thừa nhận thất bại, vị trí trong đội hình thi đấu của anh đã không còn được bảo đảm nữa. Tháng 7 năm 2004 Butt đã chuyển sang Newcastle với bản hợp đồng chuyển nhượng trị giá 2,5 triệu bảng kết thúc 13 năm thi đấu cho đội bóng chủ sân Old Trafford.
     
  7. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    Best, George

    [​IMG]


    Quốc tịch Bắc Ailen
    Ngày sinh 22/05/1946
    Số lần khoác áo 466 (79)
    Số bàn thắng 178

    ....“George Best là cầu thủ vĩ đại nhất thế giới” Pele nói . Khi mới đến Manchester còn là 1chàng trai trẻ, George Best không có vẻ gì là siêu cầu thủ cả - đó là theo lời nhận xét của Mary Fullaway, bà chủ nhà của anh. Vài ngày sau khi đến Mancheter, anh đã đáp một chuyến phà trở về Bắc Ailen vì quá nhớ nhà nhưng cha anh đã gửi anh lại. Tài năng của Best bộc lộ ngay khi anh đã thích nghi được với môi trường mới. Anh chính là phát hiện của Harry Gress. ; “Ngay lập tức tôi hiểu rằng Manchester United đã có 1 tài năng hiếm có trong tay họ. Hơn ai hết, chính George Best đã đem về cho Old Trafford Cup Châu Âu”. Anh được các chuyên gia bóng đá nhận xét là “cơn ác mộng” của các hậu vệ đối phương.

    Chàng trai Belfast : Không lâu trước khi mọi người để ý chàng trai Bắc Ailen đầy tiềm năng này thì anh đã giành được Cup Thanh Niên của FA năm 1964, Best đã tham gia thi đấu tất cả thảy 446 trận tại Anh và Châu Âu, ghi được cả thảy 178 bàn thắng. Best rất hiếm khi vắng mặt trong 1 trận đấu. Anh trở nên quan trọng không chỉ bởi tài năng ghi bàn mà còn tạo ra những cơ hội ghi bàn cho đồng đội, nhất là với Bobby Charlton và Denis Law. Anh thích đối đầu với các đối thủ của mình còn người hâm mộ thì thích xem anh biểu diễn trên sân cỏ.


    EL Beatle: Tại nước Anh nói đến âm nhạc thì người ta biết đến ban nhạc huyền thoại “ The Beatles” đến từ Liverpool, còn nói đến bóng đá thì các fan hâm mộ nhắc ngay đến George Best. Với một phong cách sống nổi loạn, phóng khoáng cả trong lẫn ngoài sân cỏ công thêm vẻ mặt điển trai và mái tóc kiểu Beatles, Best đã trở thành thần tượng nhạc pop đầu tiên của bóng đá. Trên thực tế người Bồ Đào Nha đã ngưỡng mộ và gọi anh “EL Beatle” sau trận thắng Benfica 1966 ở giải Cup Châu Âu. Trong trận này, Best đã 2 lần sút tung lưới Benfica. MU thành công trong những năm 1967 và 1968 có sự đóng góp lớn nhất của Best

    Sự hấp dẫn kỳ diệu: George Best là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất đã đem dáng vẻ hào hoa đầy vẻ qyến rũ vào sân bóng. Tốc độ và sự thăng bằng của Best làm cho người xem cảm thấy ngây ngất dưới gót giầy điệu nghệ của anh, quả bóng được lăn nhanh hơn rất nhiều, thêm nữa Best có hình thức bề ngoài khá quyến rũ. Phụ nữ thường tụ tập để xem anh trình diễn trên sân cỏ, người mà đã trở thành thần tượng ghi bàn tốc độ trong suốt thập kỷ 60-70.

    Ngôi sao lắm tài nhiều tật: Khi đã trở thành nổi tiếng Best tự coi mình là “James Bond trong bóng đá” Best nghĩ rằng anh có tất cả những gì mình muốn : tiền, gái và sự ăn chơi phóng đoãng luôn coi mình là trên hết, thường xuên bỏ những trận tập luyện để vui thú hưởng lạc theo ý thích tự do theo riêng mình. Mặc dù vậy, với tài năng thiên bẩm, anh đã tạo nên một phong cách mới trong lối chơi tấn công đầy sức thuết phục. Với những thành công vang dội cùng với MU trong suốt thập kỷ 1960-1970, George Best đã trở thành huyền thoại một thời của MU, như Vua bóng đá Pele nhận xét “George Best là cầu thủ vĩ đại nhất thế giới”





    Charlton, Sir Bobby

    [​IMG]

    Quốc tịch Anh
    Ngày sinh 11/10/1937
    Số lần khoác áo 752(2)
    Số bàn thắng 247

    Trong những năm giữa thập niên 1960 là thời kỳ vàng son nhất của bóng đá Anh, cùng với một thế hệ xuất sắc nhất nước Anh thời đó nổi bật lên mộtthiên tài bóng đá : Bobby Charlton, một cái tên đã đi vào từ điển bóng đá Anh. Thời gian này CLB Manchester United của Bobby Charlton đoạt 2 chức VĐQG và đặc là chiếc cup Châu Âu danh giá 1968. Trong những năm tuyệt vời này khi ĐT Anh đoạt Cup bóng đá thế giới, Bobby Charlton được tặngdanh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất thế giới và Châu Âu.

    Là một người đàn ông lịch thiệp, điển trai cộng với tài năng bóng đá xuất chúng, ông đã trở thành một trong những cầu thủ đặc biệt trong lịch sử bóng đá. Bobbycó đức tính gương mẫu cả trên sân lẫn ngoài đời mà tất cả các cầu thủ thế hệ sau này đều xem ông như là một tấm gương. Bobby xuất thân từ một gia đình thợ mỏ ở Nothumberland miền đông bắc nước Anh, một vùng đất khô cằn nghèo nàn. Mẹ ông, Cissie sinh ra trong một gia đình co truyền thống bóngn đá, bà là em gái của 4 anh em nổi tiếng bóng đá trên vùng Milburn, ba người anh em của bà là Jack,Jim,george chơi cho CLB nổi tiếng Leeds United, thànhviên thứ tư Stan chơi cho CLB Leicester City. Anh họ của bà Jackie với biệt danh “Wor” là tiền vệ tấn công huyền thoại của CLB Newcastle United và ĐT Anh trong khi đó người ông nội Bobby Tanner” là thủ môn của đội bóng địa phương. Thừa hưởng một truyền thống như vậy nên chẳng có gì đáng nạgc nhiên khi trưởng thành, anh trai của Bobby là Jack chơi cho CLB Leeds United và ĐT Anh còn Bobby trở thành người nổi tiếng trong bóng đá thế giới. Ngày 9/2/1953 Joe Armstrong chuyên gia tìm kếm nuôi dưỡng tài năng cho Manchester United đã phát hiện ra Charlton khi thấy Charlton thi đấu cho đội tuyển học sinh các trường phổ thông của Anh. Charlton hứa sẽ gia nhập MU khi 18 tuổi. Ông đã thi đấu trong 3 đội đoạt Cup FA bắt đ62u từ mùa giải 1953/1954. Ông thi đấu và ghi ban thường nhưng vẫn là cầu thủ dự bị và cuối cùng được mời thi đấu chính thức lần đầu tiên ở Old Trafford ngày 6/10/ 1956 khi Topmmy Taylor bị chấn thương Sir Matt Busby đã đề nghị Bobby ra sân và Bobby cũng muốn thử vận may mặc dù ông đang bị chấn thương ở mắt cá chân và ông đã ghi 2 bàn thắng. Thời kỳ này tại MU có một thế hệ cầu thủ trẻ tài năn, không tránh nổi sự cạnh tranh vị trí chính thức nhưng với sự kiên trì và chăm chỉ tập luyện, dần dần Charlton xuất hiện nhiều hơn và cùng mùa giải 1956/1957 ông được thi đấu trong đội hình chính thức. ghi được 10 bàn thắng giúp “ Những chú bé của Busby “ giành chức vi6 địch lần đầu tiên. Charlton cũng tham gia trong đội đoạt Cup FA 1956/1957, ghi bàn ******* trong trận bán kết và tham gia trận chung kết vớ Aston villa.

    Cup Châu Âu: Charlton thi đấu lần đầu tại Cup Châu Âu mùa giải 1956/1957 với sự xuất hiện nổi bật trong trận bán kết lượt về hoà 2-2 đội bóng số 1 Châu Âu Real Madrid ngày 25/4. Màu bóng 1957/1958 tại giải VĐQG, Bobby ghi được 13 bàn thắng. Lập được 1 hat-trick trong trạn đánh bại Bolton 7-2 ngay tại sân nhà ngày 18/1/1958. Cũng trong màu giải này trong trận tứ kết lượt đi trên sân Old Trafford , Bobby ghi bàn thắng nân tỉ số lên 2-1 trước Sao đỏ Belgrade, trong trận lượt về Bobby ghi 2 bàn thắng trong trận hoà 3-3 và MU lọt vào bán kết ( Sau trận đấu này “ Những chú bé của Busby” đã gặp thảm hoạ máy nay Munich trên đường trở về Manchester, ông là mộpt trong số người may mắn sống sót).

    Nguồn cảm hứng: Bobby chính là nguồn cảm hứng mạnh mẽ thúc đầy Sir Matt Busby xây dựng lại đội bóng sau thảm hoạ máy bay. Charlton chơi 38 trận t5i giải VĐQG mùa bóng 1958/1959 ghi 28 bàn thắng chơi ở vị trí cánh trái đến năm 1964 Sir Busby chuyển Charlton lên vị trí tiền vệ trung tâm và từ đây ông đã đóng vai trò chính cho sự thành ông của MU tại giải vô địch của mùa bóng này.

    Cup Thế giới: Bobby Charlton tham gia ĐT Anh lần đầu tiên vài tháng sau thảm hoạ Munich và trong khoảng thời gian 12 năm ông đã 106 lần khoác áo ĐT Anh với thành tích ghi 49 bàn thắng thực sự trởp thành huyền thoại của bóng đá Anh. Năm 1966 với 2 bàn thắng trong trận gặp ĐT Bồ Đào Nha, ngay sau Cup Vô Địch Thế Giới Bobby đươc bầu cầu thủ xuất sắc nhất thế giới trong năm, cầu tủa Châu Âu xuất sắc nhất trong năm và phần thưởng cầu thủ kiểu mẫu. đỉnh cao trong sự nghiệp bóng của Bobby là Mu giành Cup Châu Âu năm 1968 trong trận Chung Kết gặp CLB Benfica.

    Trận đấu cuối cùng trong màu áo MU: Bobby tham dự trận cuối cùng trong màu áo MU gặp CLB Verona trong trận đấu goỉai Anglo – Italian cuối mùa bóng 1972/1973 ghi 2 bàn thắng.
     
  8. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    Berg, Henning

    [​IMG]

    Quốc tịch Nauy
    Ngày sinh 1/9/19 69
    Số lần khoác áo 103 (21)
    Số bàn thắng 3

    Henning Berge là trung vệ của United từ năm 1997 đến năm 2000 trong khoảng thời gian câu lạc bộ giành được 2 chức vô địch Premiership năm 1997 , 1999 và một chiếc cúp châu Âu danh giá năm 1999. Berh chuyển đến từ câu lạc bộ Blackburn với bản hợp đồng chuyển nhượng trị giá 5 triệu bảng năm 1997. Anh là hậu vệ có khả năng không chiến rất tốt, tranh bóng khá và anh là mẫu cầu thủ có thể thích nghi rất nhanh với phong cách thi đấu của United.
    Berg là một hậu vể có vóc dáng khá tốt bên cạnh ông bạn đồng hương người Na Uy là Ronny Johnsen, anh cũng đã từng thi đấu trong màu áo đội tuyển quốc gia 75 trận. Anh đã có một trận đấu rất xuất sắc tại vòng tứ kết Champions League năm 1999 gặp câu lạc bộ Inter Milan, lúc đó anh đã thi đấu vô cùng xuất sắc và không tạo ra một khoảng trống nào cho các tiền đạo của Inter có thể hoạt động.
    Năm 1999 là một năm tuyệt vời đối với Berg nhưng sau những chấn thương liên miên Berg đã được United cho câu lạc bộ Blackburn mượn và cho đến thời điểm này anh đang là cầu thủ của Glasgow Rangers.


    Byrne, Roger

    [​IMG]

    Quốc tịch Anh
    Ngày sinh 8/02/1929
    Số lần khoác áo 277
    Số bàn thắng 19

    Không gì thích hợp hơn khi dùng cụm từ "Thế Hệ Bi Hùng" để chỉ về đội quân Busby Babes của thập niên 1950. "Hùng" là bởi lối chơi hừng hực sức trẻ, với đỉnh điểm là 2 chức VDQG Anh, còn "Bi" là hàm ý nhắc đến kết thúc bi thảm của đội quân ấy tại đường băng Munich.
    Nói về Busby Babes tức là nói về Duncan Edwards, Tommy Taylor, Bobby Charlton,... và dĩ nhiên không thể thiếu người đội trưởng Roger Byrne.

    Roger William Byrne sinh tại Gorton, Manchester, nhằm ngày 8-2-1929, cùng năm với thủ thành huyền thoại người Liên Xô Lev Yashin, và cũng như Yashin, lựa chọn đầu tiên của Byrne không phải là bóng đá. Trong khi Lev Yashin bước vào làng thể thao trong khung gỗ của bộ môn khúc côn cầu,Roger Byrne khởi nghiệp trên sân bóng bầu dục. Tuy nhiên, trước sức cám dỗ của bóng đá, đến năm 20 tuổi, Byrne bỏ ngang bóng bầu dục để tham gia đội trẻ MU.
    Tại MU, khả năng của Byrne nhanh chóng được ngài Matt Busby công nhận. Ngày 24/11/1951, ông ra mắt trong đội hình chính MU, trong trận đấu với kỳ phùng địch thủ Liverpool. Tuy đánh giá cao Byrne, ngài Busby lại phân vân không biết nên xếp ông vào đâu để tận dụng hết sở trường, do thế mà Byrne lần lượt được thử nghiệm ở các vai trò tả biên, tiền vệ trái, và hậu vệ trái. Năm 1952, khi cùng Mu đăng quang ngôi vô địch quốc gia Anh, vị trí của Byrne là tả biên, và Matt Busby quyết định trao cho ông vị trí ấy vĩnh viễn. Éo le thay, bản thân Byrne lại chẳng ưa cái vai tả biên cho lắm, ông nổi cáu và đòi được chuyển nhượng. Rốt cuộc, ngài Busby phải nhượng bộ, từ đó trở đi chỉ sử dụng Byrne ở vai trò hậu vệ trái mà thôi.

    Mạnh mẽ, nhanh nhẹn,và lại cầm bóng tốt, Roger Byrne là 1 mẫu hình hậu vệ cánh kinh điển. Tốc độ cao cho phép ông lên xuống nhịp nhàng nơi biên trái, phòng thủ thì chắc chắc mà tham gia tấn công cũng đầy hiệu quả. Vừa khéo léo lại vừa năng nổ, có ý thức chiến thuật cao và khả năng chọn vị trí chính xác, Byrne khiến cho những huyền thoại chuyên chạy cánh như Stanley Matthews và Tom Finney cũng phải kiềng mặt. Vốn không có năng khiếu bẩm sinh, những kỹ năng kể trên của Roger Byrne là do ông cố công cần cù luyện tập, người xưa có câu "có chí thì nên" quả không ngoa.
    Cả trong lẫn ngoài sân cỏ, Roger Byrne luôn tỏ ra là 1 người thông minh, trực tính, và đầy sức thu hút. Tính tình vốn thẳng thắn, ông không bao giờ ngại nêu lên chính kiến của mình, ngay cả khi phải đương đầu với ngài Busby. Nhưng ngài Busby không lấy đó làm phiền, mà ngược lại, còn tín nhiệm trao cho Byrne chiếc băng thủ quân, sau khi đội trưởng Johhny Carey treo giày vào năm 1954. Tuy chỉ già hơn vài tuổi so với các Busby Babes khác, nhưng Byrne luôn được toàn đội kính trọng và coi như 1 người anh lớn.

    Đỉnh cao sự nghiệp của Roger Byrne đến vào các năm 1956 và 1957, khi ông dẫn dắt MU giành liên tiếp 2 chức VDQG, 1 lần hạng nhì cúp FA (1957). Đến năm 1958, Byrne cũng đã 33 lần khoác áo đội tuyển quốc gia (0 bàn thắng). Nếu như không có thảm họa Munich, ông sẽ đeo băng đội trưởng tuyển Anh ở World Cup Thụy Điển, sát cánh bên các đồng đội Duncan Edwards và Tommy Taylor.

    Nếu như...vâng, nếu như không có Munich!!...Không ai quên được cái ngày tang tóc ấy, 6-2-1958, 2 ngày trước sinh nhật 29 tuổi của Roger Byrne. Khi chiếc phản lực cơ G-ALZU sắp nỗ lực cất cánh lần 3 tại đường băng, Byrne buồn bã thốt lên "Chúng ta rồi sẽ chết cả". Câu nói ấy đã trở thành định mệnh.

    Nếu tính từ khi chuyển lên đội 1 của MU, sự nghiệp của Roger Byrne chỉ kéo dài vỏn vẹn hơn 6 năm, nhưng như thế cũng đã là đủ. Bruce Lee chỉ cần 5 bộ phim để vang danh Hollywood, và Roger Byrne cũng chỉ cần 6 năm để được ghi công như 1 thủ quân huyền thọai.]
     
  9. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    Tiếp tục đây
    Manchester United ---> C

    Cantona, Eric

    [​IMG]

    Quốc tịch Pháp
    Ngày sinh 24/5/1966
    Số lần khoác áo 181(1)
    Số bàn thắng 80

    Nhắc đến Manchester United , người ta nghĩ ngay đến sân vận động Old Trafford, nghĩ đến David Bechkham, nhưng đối với những người đã từng xem Man United chơi bóng vào giữa những năm 90, thì nguời đuợc nhớ đến nhiều nhất là Eric Cantona. Là một cầu thủ tài năng, nhưng cũng đầy cá tính, Cantona luôn làm theo những gì mình nghĩ, và kết quả là anh luôn để lại tiếng xấu tại mỗi CLB mà anh đã chơi cho họ, năm 1993 nhận án treo giò 3 tháng, Cantona đã quyết định vậy là quá đủ, anh sẽ từ giã bóng đá. Có lẽ sau này những người hâm mộ CLB MU sẽ phải cám ơn M.Plantini rất nhiều, chính ông đã khuyên anh hãy sang nuớc Anh.

    Leeds United là CLB đầu tiên mà Eric dừng chân, với sự có mặt của Eric, Leeds đã giành chức vô địch giải ngoại hạng Anh năm đó, chỉ sau 1 mùa bóng ở Leeds, Cantona đã về chơi cho CLB Manchester United với 1 bản hợp đồng được kí trong thời gian kỉ lục: 3 ngày, kể từ khi phía Manchester đưa ra đề nghị tới khi hợp đồng hoàn tất. Và chính tại nơi đây 1 huyền thoại về 1 ông vua người Pháp trên đất Anh đã đuợc viết nên.

    Với sự góp mặt của Cantona, Manchester đã đoạt đuợc tất cả những gì mà 1 đội bóng mơ uớc .vô địch ngoại hạng , cúp Fa.Chính anh là người có cú volê tuyệt vời vào luới Liverpool trong trận chung kết cúp Fa năm 97.Nhưng chính cá tính và cái tôi trong Cantona quá lớn đã dẫn đến sai lầm lớn nhất trong đời cầu thủ của anh. Ngày 25/1/1995 trong trận đấu gặp Crystal Palace một CĐV mà sau này được xác định danh tính là Matthew Simmons, đã chạy thẳng xuống chỗ rào chắn và buông ra một câu chửi tục tằn. Bị xúc phạm, Cantona đã bay người qua rào chắn và tung ra cú kung-fu vào chính ngực kẻ vừa xúc phạm mình. 1 phán quyết rất nhanh đuợc đưa ra ngay sau đó. Chủ toạ phiên toà tại Croydon lạnh lùng tuyên bố tống giam Cantona 14 ngày.

    Trở lại sau án phạt Cantona đã trở thành 1 con người khác hẳn , ít nói và điềm tĩnh hơn , anh đã không còn phản ứng với những quyết định của trọng tài dù đôi khi , những quyết định luôn mang lại cho anh những thua thiệt, và chắc hẳn không ai có thể quên đuợc mùa giải khi anh quay lại sau án treo giò đó, khi đó Newcaslte duới bàn tay dẫn dắt kì diệu của HLV Kevin Keegan đang bỏ xa MU với 13 điểm trong khi chỉ còn 9 vòng đấu nữa là mùa bóng kết thúc, chức vô địch tưởng như đã nằm trọn trong tay họ, thế nhưng dưới sự dẫn dắt của Cantona, từng bước từng bước Manchester dần đuổi kịp, và vào cái ngày cuối cùng của mùa bóng Manchester đã kịp vượt qua Newcastle để giành ngôi vô địch, không gì vui hơn thế.

    Nhưng vào 1 ngày buồn cuối năm 1997, Cantona đột ngột tuyên bố từ giã sân cỏ trong sự ngỡ ngàng của người hâm mộ, anh từ giã sân cỏ khi ,mình đang ở dỉnh cao nhất của phong độ trong đời cầu thủ , khi nhận đuợc tin này, thị trường chứng khoán Luân Đôn như bị chấn động mạnh , cổ phiếu của Man sụt giảm 1,67 bảng Anh, hay nói cách khác, chỉ trong nháy mắt, Man đã mất đi 7 triệu bảng . Nhiều nguyên nhân đã được đưa ra để lý giải nhưng có lẽ do thất bại của tuyển Pháp tại Euro 96 là nguyên nhân chính của quyết đinh này, mùa hè năm 96 đội bóng dường như đã có tất cả nhưng họ lại thiếu 1 cầu thủ có vai trò thủ lĩnh, đủ sức dốc đội bóng lên những lúc cần thiết, Amie Jacquet có lẽ hiễu rõ điều này nhưng bản tính cố chấp của ông ta đã không cho phép ông gọi Eric trở lại đội tuyển quốc gia.

    - Chủ nhật, 18/05/1997: Tuyên bố từ giã sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp ở độ tuổi 31

    - Số áo huyền thoại : 7 (cả đội tuyển Pháp và đội Manchester United)

    - Trận đấu chia tay của Cantona với CLB Manchester United được tổ chức vào 18/08/1998 trong trận đấu tưởng niệm sự kiện vụ tai nạn máy bay Munich 1958 với sự chứng kiến của 56.000 VĐV, giữa đội hình 1 của Manchester United và các cầu thủ nổi tiếng đã từng chơi cho Manchester United (Robson, Hughes...), các ngôi sao của đội tuyển Pháp (Papin, Blanc...). Hiệp 1, Eric chơi trong đội hình các ngôi sao. Hiệp 2, Eric chơi cho đội hình của Manchester United. Tỉ số trận đấu là 8-4 nghiêng về đội Manchester United.

    Các CLB đã từng khoác áo:

    Manchester United : 1996/97
    Manchester United : 1995/96
    Manchester United : 1994/95
    Manchester United : 1993/94
    Manchester United : 1992/93
    Leeds United : 1992/93
    Leeds United : 1991/92
    Nîmes : 1991/92
    Marseille : 1990/91
    Montpellier mượn Marseille : 1989/90
    Bordeaux mượn Marseille : 1988/89
    Marseille : 1988/89
    Auxerre : 1987/88
    Auxerre : 1986/87
    Martigues mượn Auxerre : 1985/86
    Auxerre : 1985/86
    Auxerre : 1984/85
    Auxerre : 1983/84
    -Trận đấu đầu tiên dưới màu áo của Man.Utd: Man.Utd - Benfica (01/12/1992), tại Lisbon trong trận đấu giao hữu chuẩn bị cho giải đấu Châu Âu
    -Trận đấu đầu tiên dưới màu áo Man.Utd tại giải ngoại hạng Anh: Machester United - Machester City (06/12/1992) với tư cách dự bị. Man.Utd thắng 2-1.


    Thành tích đạt được:
    Với ĐTQG Pháp:
    + 01 lần vô địch giải trẻ U21 Châu Âu: 1988
    Với CLB Montpellier :
    01 lần đoạt cúp quốc gia Pháp: 1990
    Với CLB Marseille:
    01 lần đoạt danh hiệu vô địch quốc gia Pháp: 1991
    Với CLB Leeds:
    01 lần vô địch giải ngoại hạng Anh: 1992
    01 lần giành siêu cúp Anh (Charity Shield) : 1992
    Với CLB Manchester United:
    . 04 lần vô địch giải ngoại hạng Anh: 1993, 1994, 1996, 1997
    . 02 lần đoạt cúp FA: 1994, 1996
    . 03 lần đoạt siêu cúp Anh: 1993, 1994, 1996

    Thành tích cá nhân:
    + Cầu thủ xuất sắc nhất CLB Manchester United trong thế kỉ 20
    + Cầu thủ xuất sắc nhất trong năm 1996 do Hiệp hội các nhà báo bầu chọn.
    + Cầu thủ xuất sắc nhất trong năm 1994 của Giải ngoại hạng Anh (PFA).
    +Cầu thủ nước ngoài xuất sắc nhất tại giải Ngoại hạng Anh trong thập kỉ 90-do Liên đoàn bóng đá Anh trao tặng nhân dịp kỉ niệm 10 ra đời giải ngoại hạng Anh.

    Eric được coi như một kẻ nổi loạn với vô số scandal, cụ thể là những hành động đánh lại cổ động viên, cãi nhau với nhà quản lý, trọng tài và đồng đội.

    Các vụ scandal:

    - 1987: Tại Auxere, nhận án kỉ luật nặng sau khi đấm trọng thương thủ môn của đội mình.

    - 1988:

    +Tại Marseille, bị đưa vào thay người trong 1 trận đấu giao hữu với CLB Torpedo Moscow, Eric đã cởi áo quăng xuống đất tỏ vẻ khinh bỉ và bị CLB kỉ luật không cho thi đấu trong 1 số trận.

    +Bị cấm thi đấu trong màu áo đội tuyển quốc gia Pháp sau khi ngang nhiên thoá mạ HLV trưởng đội tuyển Pháp Henri Michel trên tivi.

    - 1989: Tại Marseille, bị treo giò sau khi đá bóng vào đám đông cổ động viên và ném áo vào mặt trọng tài sau khi bị ban HLV thay ra.

    - 1990: Tại Montpellier, bị treo giò 10 ngày sau khi đập giầy vào mặt người đồng đội của mình Jean Claude Lemoult.

    - 1991: Tại Nimes, bị treo giò 3 trận sau khi ném bóng vào trọng tài. Trước Uỷ ban kỉ luật của Liên đoàn bóng đá Pháp, khi Ủy ban đã quyết định treo giò Eric trong vòng 1 tháng, Eric đã tiến đến trước mặt toàn bộ thành viên của Ủy ban và gọi họ là "Đồ ngu xuẩn". Ủy ban quyết định tăng án treo giò lên 2 tháng.

    - 1993:

    +Tại Manchester United, bị Liên đoàn bóng đá Anh phạt 1.000 bảng Anh sau khi có hành động đánh 1 cổ động viên ngay trong lần quay trở lại sân vận động Elland Road trong màu áo của Man.Utd

    +Bị đuổi ra trong trận Manchester United thất bại trước Galatasaray trong trận tranh cúp C1 tại Istanbul sau khi buộc tội trọng tài xử ép. Sau đó bị UEFA treo giò 4 trận trong khuôn khổ các giải Châu Âu.

    - 1995: Bị đuổi ra khỏi sân Crystal Palace (25/01/1995) sau khi đá song phi vào 1 cổ động viên tên là Matthew Simmons. Vì hành động này, Eric đã bị treo giò cho tới tận 30/09/1995 và bị phạt 10.000 bảng Anh theo án phạt của Liên đoàn bóng đá Anh. Bị toà tuyên án 2 tuần ngồi tù vì tội hành hung và phải thực hiện 120 giờ lao động công ích.
     
  10. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    Johnny, Carey

    Quốc tịch Cộng hoà Ailen
    Ngày sinh 23/2/1919
    Số lần khoác áo 344
    Số bàn thắng 18

    Johnny Carey là 1 trong những thủ quân vĩ đại trong lịch sử Manchester United, 1 Roy Keane của những thập niên 1940 và 50. Với phong cách đa năng, Carey có thể chơi tốt ở cả 3 tuyến, tuy vị trí sở trường của ông là hậu vệ. Trong màu áo đội tuyển quốc gia ...
    Carey là người duy nhất có cơ hội thi đấu cho cả 2 miền Nam-Bắc Ireland. Johnny Carey, tên thật là John, sinh ngày 23 tháng 2 năm 1919 ở Dublin, thủ đô Ireland. Năm 17 tuổi, khi đang chơi cho đội bóng địa phương St James’ Gate, tài năng của Carey đã lọt vào mắt xanh nhà tuyển trạch MU Billy Behan. Billy Behan ngay lập tức báo cáo phát hiện mới cho cấp trên là trưởng ban tuyển trạch Louis Rocca, và rồi Rocca đã đem Carey về Old Trafford với 1 cái giá phải chăng là 250 bảng. Ngày 25/9/1937, Carey lần đầu tiên thi đấu cho MU, trong trận gặp Southampton.

    Vị trí ban đầu của Carey tại MU là tiền vệ trung tâm, chơi lệch về bên trái. Tại vị trí ấy, ông phải cạnh tranh cùng đàn anh là Stan Pearson. Pearson cùng Carey luân phiên thi đấu trong đội hình chính thức của MU cho đến khi đệ nhị thế chiến bùng nổ năm 1939. Trong thời kỳ chiến tranh, Carey nhập ngũ, phục vụ tại các mặt trận Trung Đông và Italy. Tại các mặt trận ấy, ông cũng tham gia thi đấu cho 1 số CLB bóng đá địa phương. Sau ngày thế chiến kết thúc, tháng 10 năm 1945, ông trở lại khóac áo MU, lần này ở vị trí trung vệ, tuy đôi khi cũng được đẩy sang 2 cánh.

    Thuộc hàng ngọai hạng so với những hậu vệ cùng thế hệ, Carey không chỉ có khả năng phán đóan vị trí tốt mà còn sở hữu 1 lối chơi fair play, “sạch sẽ” vào bậc nhất. Do lối chơi rất đẹp này mà Carey được các cổ động viên đặt cho biệt hiệu Quý Ông John. Trong sự nghiệp kéo dài 16 năm, với tư cách thủ quân, ông đã đưa MU đến với chức vô địch cúp FA năm 1948, và danh hiệu VDQG năm 1952. Về sự nghiệp quốc tế, ông có tổng cộng 27 lần khoác áo tuyển Cộng Hòa Ireland (3 bàn thắng) và 9 lần khoác áo tuyển Bắc Ireland. Năm 1947, ông được vinh dự đeo băng đội trưởng đội Các Ngôi Sao Châu Âu trong trận đấu gây quỹ cho UEFA giữa đội này và tuyển Anh. Đặc biệt, năm 1949, Carey trở thành cầu thủ MU đầu tiên được Hiệp Hội Ký Giả (FWA) trao tặng danh hiệu Cầu Thủ Xuất Sắc Nhất nước Anh.

    Sau 344 trận thi đấu cho MU, ghi 18 bàn thắng, Carey từ giã bóng đá vào tháng 5 năm 1953. Tháng 8 cùng năm, ông gây kinh ngạc khi quyết định giữ vai trò huấn luyện Blackburn Rovers, sau khi từ chối lời mời làm HLV trưởng ở Old Trafford. Carey sau đó lần lượt nắm quyền huấn luyện Everton, Leyton Orient, và Nottingham Forest, trước khi quay trở lại Blackburn vào năm 1968. Năm 1971, sau khi bị Blackburn sa thải, Carey chính thức nghỉ hưu. Ngày 22 tháng 2 năm 1995, ông qua đời ở tuổi 76.





    Trung tâm đào tạo Carrington:

    - 2001: thay thế trung tâm Cliff là trung tâm Carrington cách sân Old Trafford 6 dặm và đặt tại Carrington, thuộc vùng ngoại ô của thành phố Manchester. Trung tâm này có một khu vực dành cho việc tập luyện và đào tạo, nhiều phòng massage, vật lý trị liệu, phòng cân, bể bơi chữa bệnh bằng phương pháp thuỷ liệu.
    Có một sân bóng quần và bóng rổ, có phòng xông hơi, phòng ăn, một phòng họp, phòng làm việc và các phòng học. Ngoài ra còn có một studio chuyên ghi hình những cuộc phỏng vấn các cầu thủ và nhân viên chuyên cho các chương trình về MU. Giới truyền thông gọi trung tâm này là " pháo đài Carrington" vì có tới 2,4 km hàng rào và 30000 cây bao bọc giúp tránh xa được những con mắt tò mò của cánh nhà báo và các thám tử săn tin.

    - 2003: CLB Man City cũng đã cho xây dựng một trung tâm đào tạo ở gần trung tâm Carrington.



    Carroll, Roy

    Quốc tịch Bắc Ailen
    Ngày sinh 30/9/1977
    Số lần khoác áo 34(4)
    Số trận giữ sạch lưới 18

    Tháng 9 năm 1995, Roy Carroll bắt đầu tập sự tại Hull City. Sau 50 trận thi đấu cho Hull, anh chuyển sang Wigan Athletic vào tháng 4 năm 1997. Trong mùa bóng 1999-00, Carroll chơi xuất sắc và góp phần lớn trong chiến tích 26 trận bất bại của Wigan tại giải hạng nhì. Tháng 7 năm 2001, ngài Alex Ferguson đưa anh về Old Trafford, để thay thế cho thủ thành người Hà Lan Raimond Van der Gouw.

    Ban đầu là dự bị cho Fabien Barthez, hiện Carroll lại phải dự bị cho Tim Howard. Tuy nhiên, do phong độ của Howard trồi sụt thất thường, nên anh cũng có nhiều dịp được ra sân.

    Carroll khoác áo đội tuyển quốc gia từ năm 1997, anh và Mark Taylor là 2 sự lựa chọn hàng đầu trong khung thành của Bắc Ireland.

    Thành tích với United

    2003 VDQG
    2004 Cúp FA



    Chubb

    Đây là một thuật ngữ chỉ những vấn đề về vé. Hiếm khi có chuyện vé được bán công khai, rộng rãi cho dân chúng. Nếu bạn ko phải là những nhà bán vé, hay những tổ chức mua buôn, thì cách duy nhất để bạn có thể có vé đó là gia nhập làm thành viên của CLB. Tuy nhiên, chỉ có 25000 chỗ mà có tới 120000 thành viên. Mặc dù vậy, trong những trận đấu lớn, có thể có tới 80000 vé. Như vậy, phải tiến hành bốc thăm, lá phiếu bốc thăm này có hiệu lực do có chữ ký của ông A. Chubb, giám đốc phòng bán vé. Mặc dù, có tin đồn A. Chubb là ko có thật nhưng những chiếc áo phông in tên và chữ ký của ông vẫn được lưu hành và việc bốc thăm để có vé xem MU vẫn diễn ra.



    Cliff, The



    Đã từng là trung tâm đào tạo chính của MU ở Salford bên bờ sông Irwell. Trung tâm có sân bóng trong nhà, ngoài trời, phòng tập thể dục, phòng đào tạo, phòng chơi thể thao và nhiều trang thiết bị hiện đại. Năm 1999, Cliff đã bị thay thế bởi trung tâm Carrington nhưng Cliff vẫn được dùng để phục vụ cho việc thi đấu của các đội trẻ.
     
  11. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    Cole, Andy

    [​IMG]

    Quốc tịch Anh
    Ngày sinh 15/10/1971
    Số lần khoác áo 225(43)
    Bàn thắng 121

    Không ai có thể quên được bộ đôi Cole và Yorke, nhân tố chính làm nên cú ăn ba lịch sử của Manchester United năm 1999. Tuy nhiên, trong khi sự nghiệp của Yorke ở MU chỉ như 1 ngôi sao băng, Cole đã tỏ ra vững vàng hơn trong suốt thời gian thi đấu tại Old Trafford, và xứng đáng có được chỗ đứng trong danh sách các huyền thọai.

    Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1971 tại Nottingham, Anh, Andrew Alexander Cole gia nhập đội quân Arsenal năm 1989. Sau 2 năm “ngồi chơi xơi nước” trên ghế dự bị ở Highbury, Cole được HLV George Graham đem cho Fulham mượn trong 1 thời gian ngắn, rồi sau đó bán đứt cho Bristol City với giá 500 000 bảng vào năm 1992. Thi đấu khá thành công ở Bristol, Cole lọt vào tầm ngắm của Newcastle United. Tháng ba năm 1993, HLV Kevin Keegan của Newcastle bỏ ra 1 triệu 750 ngàn bảng rước anh về đội. Trong khỏang thời gian còn lại của mùa 1992-1993, Cole kịp thi đấu 12 trận, ghi 12 bàn, góp công lớn đưa Newcastle thăng lên ngọai hạng.

    Mùa bóng tiếp theo, cầu thủ 22 tuổi Andy Cole trở thành người hùng tại CLB mới. Anh lên ngôi vua phá lưới giải VDQG với 34 bàn thắng, và ẵm luôn giải Cầu Thủ Trẻ Xuất Sắc Nhất Nước Anh. Lúc bấy giờ, Cole được coi như tương lai của Anh Quốc, hễ nhắc đến bóng đá Anh tức là nhắc đến Shearer và Cole. Tháng 1 năm 1995, Alex Ferguson gây chấn động thị trường chuyển nhượng khi chi 7 triệu bảng để đem anh tới Old Trafford. Cuộc chuyển nhượng này đã gây ra không ít sóng gió cho Newcastle, do các fan hâm mộ phẫn nộ trước sự ra đi của thần tượng. Ngày 22 tháng 1 năm 1995, Cole lần đầu ra sân trong màu áo Quỷ Đỏ, ở trận gặp Blackburn.

    Điểm mạnh đáng chú ý ở Andy Cole là tốc độ cao và khả năng xoay trở nhanh nhẹn trong tư thế xoay lưng về phía khung thành đối thủ. “Tầm ngắm” của Cole đặc biệt chính xác, những năm ở đỉnh cao phong độ, tỷ lệ sút bóng thành bàn của anh thuộc lọai cao nhất châu Âu. Khi còn ở Newcastle, phong cách Andy Cole có phần “vị kỷ”, chỉ chăm chú ghi bàn mà ít chịu chuyền bóng hay kiến tạo, nhưng sau những năm tháng trui rèn cùng Eric Cantona trên hàng tiền đạo MU, lối chơi của Cole dần dần mang nhiều tính đồng đội hơn. Tính đồng đội ấy đạt đến đỉnh cao trong những pha phối hợp với Dwight Yorke mùa 1998-99.

    Trong năm đầu tiên trong màu áo đỏ, Andy Cole ngay lập tức ghi danh vào sách kỷ lục với tư cách cầu thủ ghi được nhiều bàn thắng nhất cho MU trong 1 trận đấu thuộc khuôn khổ giải ngọai hạng Anh (Premier League). 1 mình anh ghi được 5 bàn thắng trong trận gặp Ipswich Town vào ngày 4 tháng 3 năm 1995(*). Đáng tiếc, cuối mùa bóng ấy, MU lại trắng tay không đọat được danh hiệu nào.

    Những năm đầu tại Old Trafford đã diễn ra không như ý Andy Cole. Lần trắng tay năm 1995 được bù đắp bằng cú đúp VQDG-Cúp FA vào mùa tiếp theo. Nhưng trong chiến thắng kép này, Cole lại chẳng đóng góp được gì nhiều, vì sau khi khỏi bệnh phổi bị nhiễm hồi đầu mùa, anh lại bị…gãy chân. Khi Cole trở lại với phong độ đỉnh cao vào mùa 1997-98, thì trớ trêu thay, MU để tuột hết danh hiệu vào tay Arsenal và 1 lần nữa trắng tay.

    Mùa bóng đáng nhớ nhất trong đời Cole bắt đầu khi HLV Alex Ferguson sắm cho anh người đá cặp mới là Dwight Yorke vào năm 1998. Thật sự Cole và Yorke đều là những mẫu tiền đạo có thể tác chiến độc lập, khi chơi đơn lẻ họ vẫn rất xuất sắc, nhưng nếu kết hợp cùng nhau thì lại càng hiệu quả bội phần. Chứng kiến Yorke-Cole phối hợp trong mùa 1998-99, có cảm tưởng như họ sinh ra để đá cặp cùng nhau. Với sự đồng điệu đến tuyệt vời, dường như người này chỉ cần dùng trực giác cũng biết được người kia đang ở đâu, chứ không cần phải quan sát cho mất công. Sự đồng điệu ấy làm nền tảng cho những đường bật tường, những pha chuyền bóng đan xen nhanh như cắt giữa 2 tiền đạo da đen. Bóng vừa rời chân Yorke đã đến chân Cole, rồi thoắt 1 cái lại về chân Yorke, khiến hậu vệ đối phương không còn biết phải kèm ai.

    Sự ăn ý giữa Yorke và Cole đã đem về cho MU cú ăn ba đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến nay, Cúp VDQG, cúp FA, và Champions League, đó là còn chưa kể Cúp Liên Lục Địa. Bộ đôi tiền đạo này đã ghi tổng cộng 53 bàn tại tất cả các giải trong mùa, trong đó 24 bàn thuộc về Andy Cole. Trong 24 bàn này, có lẽ Cole sẽ nhớ nhẩt cú lốp bóng tinh tế trong trận đấu quyết định chức VQDG giữa MU và Tottenham tại Old Trafford. (Quỷ Đỏ thắng 2-1)

    1 thực tế là những giây phút huy hòang thường rất ngắn ngủi. Chính vì Cole và Yorke đã quá ăn ý ở mùa bóng lịch sử, họ không bao giờ còn có được sự đồng điệu cao độ như thế nữa. Trong năm tiếp theo, cả hai vẫn phối hợp tốt với nhau, nhưng không còn quá kết dính. Tuy thế, mùa bóng 1999-00 lại là mùa Andy Cole ghi được những bàn thắng đẹp nhất trong đời cầu thủ. Đó là cú tung người móc bóng ngọan mục trong trận tiếp Leicester, là 4 bàn thắng tuyệt đẹp trong trận gặp “cố nhân” Newcastle United, là cú tung người volley trên không ở cự ly gần trong trận với Watford, là pha bóng ngả bàn đèn ở trận đối đầu Marseille, hay là lần xoay người lốp bóng nhanh như cắt trong trận gặp Coventry. 22 bàn thắng trong tất cả các giải của Andy Cole góp phần giúp MU bảo vệ thành công ngôi VDQG.

    Sự nghiệp của Cole bắt đầu đi xuống sau chấn thương đầu gối vào giữa mùa 2000-01, nhưng anh vẫn đủ sức giữ được vị trí chính thức trên hàng tiền đạo MU, đá cặp cùng “lão tướng hồi xuân” Sheringham, chứ không sa sút phong độ trầm trọng như Yorke.1 trong những màn tỏa sáng cuối cùng của Cole là cú hattrick vào lưới Anderlecht trong khuôn khổ Champions League. Tuy nhiên, sự có mặt của Ruud Van Nistelrooy tại Old Trafford từ tháng 8-2001 đã khiến Cole mất chỗ trên hàng công. Ngày 29 tháng 12 năm 2001, Cole chuyển sang thi đấu cho Blackburn Rovers với giá 7.5 triệu bảng. Sau 1 thời gian thi đấu tương đối thành công, và dành được 1 League Cup cùng Blackburn, Cole đến với Fulham vào tháng 7 năm 2004.

    Cho đến nay, đã ở tuổi 33, Andy Cole vẫn chưa được tham dự 1 giải đấu lớn nào trong màu áo đội tuyển quốc gia, và có lẽ là sẽ chẳng bao giờ. Tuy 1 thời được đánh giá là tương lai của nước Anh, ngang hàng với Alan Shearer, nhưng trong khi Shearer đã trở thành huyền thọai trong đội tuyển từ lâu, Cole vẫn không bao giờ được các HLV ưu ái. Tổng cộng anh chỉ được khóac áo tuyển quốc gia 15 lần, ghi được 1 bàn thắng. Có bất công chăng?

    Các danh hiệu:
    2001 VDQG
    2000 VDQG
    1999 Cúp Liên Lục Địa
    1999 Champions League
    1999 F.A. Cup
    1999 VDQG
    1997 VDQG
    1996 F.A. Cup
    1996 VDQG

    (*)Chú thích: Andy Cole giữ kỷ lục Premier League, còn kỷ lục mọi thời đại thuộc về George Best. Best ghi 6 bàn trong trận MU-Northampton Town, vòng 5 cúp FA, ngày 7-2-1970

    Colman, Eddie

    [​IMG]

    Quốc tịch Anh
    Ngày sinh 1/11/1936
    Số lần khoác áo 107
    Số bàn thắng 2

    Với những cú sút đầy uy lực, trung vệ Eddie Colman đá cặp rất ăn ý với Duncan Edwards. Edwards có sự dũng mãnh trong khi Colman lại rất khéo léo. Là một cầu thủ với khả năng tranh, giữ bóng, những đường chuyền thông minh và với những động tác đảo người rất uyển chuyển Colman được cổ động viên yêu mến gọi là “mình rắn”. Anh đã thực hiện rất nhiều cú sút đẹp mắt từ khả năng di chuyển thông minh. Eddie rất nổi tiếng với những cú tạt bóng cầu vồng.
    - 1957: vô địch NHA và vào chung kết cúp FA
    - 1958: là một trong các cầu thủ tử nạn tại Munich.
     
  12. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    Chelsea

    [​IMG]

    Trong vòng nhiều năm trước, Man United không đánh giá cao khả năng cản trở của Chelsea đối với bước tiến của họ. Trong số các câu lạc bộ của thành London, The Blues không lớn bằng West Ham và thậm chí còn ít thành tích hơn The Hammers. Trong vài năm cuối thập kỉ 90, họ bắt đầu có những bước tiến về tài chính và đã thu thập được 1 vài danh hiệu. Tuy nhiên, như thế vẫn chưa đủ để đưa Chelsea trở thành 1 vật cản trên bước đường chinh phục ngôi vị câu lạc bộ xuất sắc nhất nước Anh của Quỷ đỏ.

    Mọi thứ chỉ thay đổi kể từ ngày 2/7/2003 khi 1 tỉ phú người Nga có tên Roman Abramovich mua lại Chelsea. Với tổng giá trị tài sản khoảng 5 tỉ bảng thu từ tập đoàn dầu mỏ của mình, Abramovich đã biến Chelsea từ 1 đối thủ "vô hại" với United trở thành 1 thế lực lớn tại Premiership. Không những thâu tóm trong nước, The Blues khiến cho cả châu Âu phải kiêng nể bởi túi tiền không đáy của vị chủ tịch người Nga, khi mà cầu thủ nào lọt vào mắt xanh của họ đều không thể thoát được.

    Họ nói rằng tiền không mua được thành công của họ hiện nay, nhưng ai cũng biết, từ khi đến với Stamford Bridge, chỉ trong vòng 2 năm, Abramovich đã chi ra hơn 260 triệu bảng để mang về cho Chelsea danh hiệu vô địch Premiership sau nửa thế kỉ chờ đợi. Thời gian này, trong khi Man United đang bị khủng hoảng sau khi bị gia đình nhà Glazer thôn tính, thì đội quân của Jose Mourinho trở thành đối thủ đáng gờm nhất của Alex Ferguson, hơn cả Wenger đã từng làm. "Gã nhà giàu Chelsea" giờ đây, không chỉ đánh bại United ở cuộc đua giành chức vô địch Premiership mà còn cướp luôn cả danh hiệu "câu lạc bộ đáng ghét nhất nước Anh" của Quỷ đỏ...

    Một vài ý kiến cho rằng, Abramovich sẽ chẳng thu được bất kì lợi nhuận nào nếu cứ đầu tư vô tội vạ như vậy. Có thể ông ta sẽ đầu tư vào Mỹ với những dự án kinh doanh thể thao mới và những danh hiệu mới? Đó cũng là 1 khả năng vì tài sản đồ sộ hiện nay của ông ta (ước tính 7 tỉ bảng) có thể bị thua lỗ... Tuy nhiên, lúc đó chưa biết khi nào tới, còn hiện nay, Chelsea vẫn là 1 thế lực lớn tại nước Anh và bóng đá thế giới...



    Coppell, Steve



    Quốc tịch Anh
    Ngày sinh 1/11/1936
    Số lần khoác áo 107
    Số bàn thắng 2

    Anh là một cầu thủ quan trọng của MU cho tới khi bị thương và phải giã từ thi đấu ở độ tuổi 28. Từ 1975-1983, anh là cầu thủ chạy cánh rất hay, đặc biệt những quả tạt cánh phải.
    - Trong suốt thời gian học ở ĐH Liverpool, anh đã chơi cho CLB Tranmere
    - Năm 1975: Tom Docherty để mắt tới anh và ký hợp đồng trị giá 60000 bảng.
    - Từ tháng 1/1977 - 7/11/1981, anh đã thi đấu kỷ lục 206 trận liên tiếp.
    - 1977: vô địch cúp FA
    - 1976 & 1979: vào tới vòng chung kết cúp FA
    - 1981: khi chơi cho đội tuyển Anh, anh đã bị chấn thương đầu gối và kết thúc sự nghiệp năm 1983.



    Crerand, Pat



    Quốc tịch Scotland
    Ngày sinh 23/2/1939
    Số lần khoác áo 392
    Số bàn thắng 15

    Anh là một trung vệ thẳng thắn, và khó có thể lấy bóng từ anh. Anh được coi là Roy Keane của thế hệ anh ta. Là một người có những đường chuyền bóng chuẩn xác với những kỹ năng giành bóng.

    - 1963: vào vòng chung kết cúp FA
    - 1965 & 1967: đoạt 2 cup C1
    - 1972: giã từ sự nghiệp và từ đó làm những công việc truyền thông liên quan tới MU như chương trình MUTV, nơi anh ta có thể đưa ra những ý kiến có liên quan tới MU một cách thẳng thắn.

    (Nguồn : MUSVN)
     
  13. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    D

    Djemba-jemba,Eric



    Quốc tịch Cameron
    Ngày sinh 4/5/1981
    Số lần khoác áo 12(10)
    Số bàn thắng 2

    Djemba-Djemba là sản phẩm từ lò đạo tạo trẻ của CLB FC Nantes, Pháp. Anh bắt đầu thi đấu chuyên nghiệp từ mùa hè năm 2000. Trong trận Nantes gặp Manchester United trong khuôn khổ Champions League vào tháng 2 năm 2002, Djemba-Djemba đã gây được ấn tượng với HLV Alex Ferguson, và ông đã đưa anh về Old Trafford hồi tháng 7 năm 2003 với giá 3.5 triệu bảng.

    Djemba thi đấu ra mắt trong trận tranh Siêu Cúp nước Anh giữa MU và Arsenal, vào ngày 10 tháng 8 năm 2003. Tuy nhiên, vị trí của anh trong đội hình chính thức không mấy bảo đảm.

    Djemba được gọi vào đội tuyển quốc gia Cameroon từ tháng 1 năm 2002. Cùng năm, anh cùng “Những Chú Sư Tử” giành ngôi vô địch châu Phi, và tham dự World Cup tại Hàn-Nhật.

    Thành tích với United: 2004 FC Cup



    Docherty, Tommy


    Tommy Docherty hay còn đựoc gọi là "The Doc" luôn đựoc cổ động viên United yêu mến. Vị huấn luyện viên có cá tính ngổ ngáo và khá lắm lời này luôn là nhân vật thu hút sự chú ý giới hâm mộ bóng đá thời kỳ những năm 70. Ông bắt đầu dẫn dắt United từ tháng 12 năm 1972,và dưới bàn tay huấn luyện của ông United trở thành đội bóng mang phong cách bóng đá tấn công rất đặc sắc. Lối chơi của United luôn rất hấp dẫn, và luôn sẵn sàng bùng nổ. Chính Docherty là người đã đưa ra triết lý bóng đá nổi tiếng “ nếu đối thủ ghi được 3 bàn thắng chúng tôi sẽ ghi 4”. Điều đó cũng đã đủ nói lên tất cả về lối chơi của United ngày ấy,tấn công hết mình. Khi Tommy đến với United chúng ta đang trong thời suy sụp về mọi mặt,chính vị huấn luyện viên này đã cứu Mu khỏi phải xuống hạng mùa giải 73, nhưng 1 năm sau đó ông cũng đành khuất phục chứng kiến MU phải lần đầu tiên xuống chơi hạng 2 (nay là Hạng nhất ) kể từ năm 1938.

    Với sự cơ động và tốc độ của các tiền vệ cánh như Hill và Coppell kết hợp với các nhân tốt quan trọng khác trên hàng công như Macari, Burchan và MclLroy United dễ dàng giành chức vô địch hạng hai và trở lại hạng nhất,một năm sau United kết thúc giải ở vị trí thứ 3 mùa bóng 1976,đồng thời đọat một suất vào tranh trận chung kết cúp FA với Liverpool. Vượt qua Liverpool ở trận chung kết với tỷ số,United trực tiếp phá vỡ giấc mộng về cú ăn ba của kình địch. Tuy nhiên quãng thời gian gắn bó với United của The Doc đã trở thành dĩ vãng khi ông bị sa thải 2 tháng sau chiến thắng ở cúp FA bởi bị buộc tội quan hệ ngoại tình với vợ của một bác sĩ vật lý trị liệu của câu lạc bộ.
    Quyết định sa thải Docherty,người vưa có công vực dậy lối chơi của câu lạc bộ vì một lý do không liên quan đến bóng đá có lẽ là một trong những sai lầm đáng tiếc nhất của câu lạc bộ,United đã lỡ hẹn với những gianh hiệu mà họ hoàn toàn có khả năng giành được.



    Dunne, Tony



    Quốc tịch Cộng hoà Ailen
    Ngày sinh 24/7/1941
    Số lần khoác áo 529 (1)
    Số bàn thắng 2

    Tony Dunne là một trong những người hùng lặng lẽ trong đội hình vĩ đại của những năm 60. Thi đấu ở vị trí hậu vệ cánh, Tony có khả năng tranh chấp bóng tuyệt vời, với lối chơi tốc độ và quyết đóan. Sự chắc chắn của hậu vệ cánh này chính là nền tảng vững chắc cho hàng công với bộ ba Charlton, Law và George Best. Trong 13 mùa giải cống hiến cho MU từ 1960 tới 1973,Tony Dunne giành 2 chức vô địch Anh (65,67),1 cúp FA năm 63 và 1 cúp Châu Âu năm 68. Sir Matt Busby vẫn thường đánh giá Tony Dunne luôn là một trong những hậu vệ cánh giỏi nhất thế giới.



    Duxbury, Mike



    Quốc tịch Anh
    Ngày sinh 1/9/1959
    Số lần khoác áo 343 (33)
    Số bàn thắng 7

    Mike Duxbury từng là hậu vệ phải cho United trong suốt 10 năm từ 1980 đến 1990. Anh là mẫu cầu thủ cơ động, khéo léo và tràn đầy quyết tâm. Khả năng phòng thủ của Mike cũng rất nổi bật,anh giành 2 cúp FA cùng United những năm 83 và 85.

    Mike cũng từng được gọi vào đội tuyển Anh và ra sân 10 lần. Cuối mùa giải 90,Duxbury rời United chuyển tời Blackburn,sau đó anh giã từ sự nghiệp ở Bradford.
     
  14. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    E

    Duncan Edwards

    [​IMG]



    Quốc tịch Anh
    Ngày sinh 1/10/1936
    Số lần khoác áo 175
    Số bàn thắng 21

    "Mười phút đã trôi qua ,bàn thắng cũng chưa cũng chưa được ghi tại Highbury .Viollet đã nhận được bóng ,anh đã vượt qua người kèm mình và đang dần quay hướng tấn công về khung thành của Arsenal , anh cũng đã nhìn và chuyền một đường bóng sang cánh cho Morgan và bây giờ Edward đã gia nhập vào đợt tấn công ,Morgans đưa bóng tới Edwards ,Edwards chỉnh điều khiển bóng và sút...VÀO ! Đó là một bàn thắng tuyệt vời từ một cú sút sắc như "dao cạo" trong vùng cấm địa. Jack Kelsey không có cơ hội với cú sút đó,đó là điều tất nhiên....."

    Edwards đã không biết rằng đó là trận đấu và bàn thắng cuối cùng của anh ấy ở giải đấu này và hơn trên hết là tình yêu dành cho Manchester United. Bốn ngày sau trận thắng nổi tiếng 5-4 trên sân Hyghbury, Edwards giúp United vào đến vào đến bán kết của cúp Châu Âu sau trận đấu lượt về đầy khó khăn 3-3 với câu lạcbộ "sao đỏ Belgradge".

    Ngay ngày hôm sau, 6 tháng 2 năm 1958 chiến thắng lớn của "Bushy Babes" (đội quân của Sir Matt Bushy) đã biến thành thảm họa. Tai nạn thảm khốc trên bầu trời Munich đã cướp đi của thế giới bóng đá một dàn cầu thủ tuyệt vời, và 15 ngày sau đó có thể nói rằng United đã mất đi một cầu thủ một tài năng lớn nhất -Ducan Edwards.

    Sau 46 năm và từ Manchester tới Madrid ,Edwards mãi mãi được nhớ đến. Nhưng sự trưởng thành của một cầu thủ được gán cho cái tên "The Tank" lại bắt đầu ở một tầng lớp bình dân ở Dubley thuộc Phía Tây Trung Du Nước Anh một trong những thị trấn được xem như là của chung "Black Country" nơi đã từng là thời hoàng kim của các ống khói từ các nhà máy trong một vùng công nghiệp lớn.

    Ngày nay nhiều nhà máy đã đóng cửa khi sự sản xuất chuyển sang phần đóng tàu. Người khổng lồ trong các của hàng Merry Hill đã được xây dựng ở trung tâm của Dubley vào những năm của thập kỉ 1980 nhưng bây giờ nó chỉ được biết đến như là một nền tảng của "hustling & bustling". Tuy đã có nhiều thay đổi nhưng những con người mến khách và nhiệt tình này không thể nào quên và trong họ dường như còn tự hào vì nơi đây đã sản sinh một người con trai nổi tiếng nhất.

    Ducan đã được sinh ra vào ngày mồng 1 tháng 10 năm 1936 với cha là Gladstone và mẹ Sarah. Họ cũng đồng thời có một con gái là Caorl Anne người mà ít hơn anh ấy 10 tuổi tuy nhiên cô bé đó đã mất sau 14 tuần. Ewards đã hoàn thành khóa học tiểu học của mình ở Priory và trường trung học cơ sở Wolverhamton Street nơi mà một chàng trai đã sớm bộc lộ tài năng với đôi chân to khỏe, tốc độ nhanh và những cú sút đầy uy lực.

    Eric Booth,một giáo viên ở trường Parks và sau đó là thư kí của English School FA, đã đến vùng Dubley. Ông ấy đã đứng ra bảo trợ cho Ducans và đồng thời là huấn luyện viên cho anh.Edwards sớm trở thành người có thể trở chơi hai chân như nhau. Người giáo viên này sau đó đã viết thư cho một người bạn và thỏ lộ: "tôi đã nhìn thấy một cậu bé lớp 11 chơi bóng và sẽ có một ngày anh ta chơi cho đội tuyển Anh".

    Phần lớn mọi người trong vùng đều tin tưởng rằng Duncan sẽ chơi cho đội bóng Wolves khi họ đã là một clb thành công và hơn thế nữa từ đội bóng về nhà của Ducan chỉ mất có 12 miles.Tuy nhiên,United đã có một hành động liều lĩnh khi ban huấn luyện đến nhà Edwards và đánh thức gia đình anh ấy dạy vào đúng 3ham để bảo đảm có bằng được chữ kí của Ducan.

    Để rõ vì sao United lại có hành động như vậy như xin nghe câu chuyện sau:

    Vào đầu mùa giải United đã có ý định kí hợp đồng với cầu thủ Alec Farrall, và nếu như vậy Ducan Edwards sẽ không bao giờ có cơ hội mặc chiếc áo số của MU? .Một ngày muộn của câu lạc bộ trợ lý huấn luyện viên Sir Jimmy Murphy đã nhắc lại một lần nữa với Sir Matt Bushy lúc đó đang là huấn luyện viên về sự tha thiết có được Farrall trong đội hình tấn công nhưng người bạn thân của Sir Joe Mercer huấn luyện viên ở trường nam sinh đã nói về một cậu bé với viễn cảnh và triển vọng tốt hơn nhiều.

    "Cậu ta là cầu thủ tốt nhất trong trường quốc tế Nam Sinh" và "cậu ta sẽ trở thành người chiến thắng thế giới nếu tôi là người phán xử của các tài năng trẻ.Tên cậu ta là Duncan Edwards". Vì vậy Bushy cảm thấy háo hức một cách kì lạ,ông nghĩ mình cần phải gặp cậu bé và cha mẹ cậu ta những người mà có tầm ảnh hưởng không nhỏ trong vấn đề này.Và cuối cùng ông cũng đã rời nhà Edwards với một lời hứa của Duncan: "United là một một câu lạc lớn trên thế giới.Tôi mong muốn được chơi cho đội bóng của các ngài". Từ lời hứa của mình, Duncan đã từ chối hai câu lạc bộ mà đang tìm cách để có ông: Wolves và Bolton nơi là người họ hàng của Duncan đang chơi Dennis Steven.

    Sir Murphy và Sir Bert Whalley là hai nhân vật đại diện cho United đã đến nhà Ewards đề giải quyết vấn đề kí hợp đồng này một cách trọn vẹn vào một buổi sáng khác. Đi xuống buồng ngủ của mình, Duncan nói United là câu lạc bộ duy nhất mà ông muốn chơi và đã kí một bản hợp đồng với họ ngay ở đó và sau đó chính thức ở văn phòng của United vào ngày 2/6/1952. Ông đã kiếm được £15 một tuần trong suốt mùa giải và giảm xuống còn £12 vào cuối mùa .

    Trong suốt mua giải 1952/1953 ông chơi cho đội hình A bên cạnh là giải trẻ các câu lạc bộ trực thuộc trong hệ thống các giải đấu của Liên Đoàn, và là một một cầu thủ có vai trò chính trong trận thắng 23-0 với Nantwich ở FA CUP (giải trẻ), ông cũng ghi được 5 bàn trong trận này.Tuy nhiên vẫn chỉ là một cầu thủ nghiệp dư và mới chỉ 16 tuổi. Sau đó ông đã được đưa lên đội hình 1 và có trận đấu ra mắt đầu tiên ở sân Old Trafford với Cardiff City vào tháng 4 năm 1953. United đã có một cuộc trình diễn tệ hại và để thua đến 4-1 nhưng,cuộc ra mắt của Ducan được đánh giá là "...một cầu thủ mang lại tương lai sáng lạng dành cho United.." và vào tháng 10 năm 1953 ông đã kí hợp đồng thi đấu chuyên nghiệp với Man Utd dưới sự huấn luyện của Sir Busby.

    Trở thành cầu thủ được thi đấu thường xuyên trong màu áo câu lạc bộ "những con quỉ đỏ" và U23 tuyển Anh trước khi ông tổ chức sinh nhật lần thứ 18. Một năm sau đó ông trở thành tuyển thủ đội tuyển Anh (cầu thủ trẻ nhất trong thế kỉ 20 trước khi M.Owen kế bước), anh đã có buổi ra mắt trong trận thảm bại 7-2 của Scotland. Đó là lần đầu xuất hiện đầy đủ của 18 chữ cái.

    Edwards cũng đủ tư cách để chơi 1/3 mùa giải ở đội trẻ trong giải FA cup và là nhân tố nổi bật trong việc giành danh hiệu cho "quỉ đỏ". Sự thành công của Duncan là quá tốt vì vậy đã có nhiều câu hỏi được đặt ra về một huyền thoại mới,và công bằng để có thể nói rằng trong suốt thời gian ở đội trẻ Edwards là người đứng đầu và là chỗ dựa vững chắc cho các đồng đội.

    Ông nhanh chóng trở thành một trong các cầu thủ toàn diện nhất của Vương Quốc Anh với sức mạnh, uy tín lớn, và có thể lực ổn định.. ông cũng nhanh chóng có sự cân bằng hoàn hảo, có thể tấn công và dẫn bóng dài như một điều quá đơn giản. Ông cũng chơi rất tốt ở trên không, có một trong những cú sút được đánh giá là tuyệt nhất trong lịch sử United, là một người có nhiều may mắn cũng như sự khắc phục những hạn chế rất nhanh. Không chỉ là một cầu thủ nguy hiểm và linh hoạt trong vòng cấm địa, ông còn là một nhà tổ chức thực sự ở hai bên cánh.

    Ewards chứng minh sự thành công của mình trong đội hình "Busby Babes",chiến thắng hai cúp ở ngoại hạng anh hay còn gọi là League champions, 2 Charity Shields cup, và một FA cup.Một điều không may, ông không thể thêm vào bộ sưu tập thành tích của mình thêm một chiếc cup nào nữa khi cùng 7 đồng đội ra đi mãi mãi trong vụ nổ máy bay kinh hoàng ở Munich. Mặc dù đã được tổ chức y tế ở nước Đức cố gắng cứu chữa nhưng sau 2 tuần từ vụ nổ, Ewards đã ra đi vào ngày 21/2/1958 mới chỉ 21 tuổi...
     
  15. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    Edwards, Martin

    [​IMG]

    Martin Edwards đã từng là giám đốc điều hành của câu lạc bộ Mnachester United, một người đàn ông cục mịch và không được lòng mọi người. Thường xuyên được các fans hâm mộ gọi bằng cái biệt danh “That Bastard” (kẻ đáng khinh). Ông là người đã dẫn đường cho Man United trở thành câu lạc bộ giàu nhất thế giới với một nền tài chính hùng mạnh, ông ta cũng cảm thấy rất bực mình sau khi ông ta bị mọi người coi như là con của một gã bán thịt không hơn không kém. Gia đình Edwards đã tìm thấy may mắn của họ khi kinh doanh những gói thịt ở Manchester’s Stretford. Cha của Martin là Louis đã từng đặt vấn đề với Sir Matt Busby về việc mua lại các cổ phần của câu lạc bộ và công ty United plc đã được thành lập từ đó.

    Martin luôn luôn là người có lẽ là rất không ngay thẳng, đã phải chịu đựng mũi giùi từ phía các cổ đông vì cái tính keo kiệt bủn xỉn của mình. Các cổ động viên luôn luôn đổ lỗi cho anh ta và cho rằng tập đoàn PLC đã không đưa đủ tiền cho Ferige để mua các cầu thủ mới.

    Năm 1989 Martin đã bán gần hết số cổ phiếu của mình trong câu lạc bộ với số tiền là 20 triệu bảng, năm 1998 ông ta muốn trở lại để bán một số lượng cổ phần của mình cho Rupert Murdoch với giá 85 triệu bảng. Đến năm 1999 ông ta đã định bán tất cả số cổ phần của mình dưới cái giá 120 triệu bảng. Ông ta dường như chỉ muốn lấy tiền và chạy, thật là lạ là United vẫn là câu lạc bộ giàu nhất hành tinh trong những năm đó. Những hiềm khích của ông ta với HLV trưởng Sir Alex Ferguson đã làm cho các cổ động viên bực mình và luôn luôn sỉ và Martin.

    Kể ra ông ta cũng được thừa nhận khi đưa nền tài chính của câu lạc bộ lên đến thành công khi ông ta đã khai thác tất cả các thành công từ đội bóng của Alex Ferguson. Edwards đã có một kế hoạch trong khoảng thời gian dài để trở thành người nắm giữ chức chủ tịch tập đoàn United PLC khi người đang nắm giứ chức vụ lúc đó là Sir Roland Smith nghỉ hưu nhưng bản mặt của ông ta bị rất nhiều người phản đối lại kế hoach đó. Edwards vẫn ở lại để làm một giám đốc không chính thức là người đại diện cho United tại Premier League và các giải đấu thuộc đấu trường châu Âu.



    England

    [​IMG]


    Manchester United đã từng cung cấp cho đội tuyển Anh rất nhiều cầu thủ giỏi có thể kể ra đây như là Edwards, Charlton, Stiles, Robsson, Beckham, Scholes. Các cầu thủ của Manchester United đã đóng góp cho đội tuyển Anh đến 150 bàn thắng nhiều hơn gấp 2 lần số bàn thắng mà các cầu thủ Liverpool ghi được. Dĩ nhiên Manchester United vẫn là câu lạc bộ có nhiều cổ động viên nhất trên vương quốc Anh với 13 triệu fans hâm mộ cuồng nhiệt trên khắp đất nước.
    Rất nhiều cổ động viên của Manchester United đã quay mặt lại với đội tuyển Anh khi kết quả tai hại của đội tuyển tại France 98 bị đổ hết lên đầu cầu thủ con cưng David Beckham. Bây giờ Beckham đã là đội trưởng đội tuyển Anh nên mối quan hệ này đã được nối lại nhưng quyền lợi của United luôn được các cổ động viên đặt lên trên quyền lợi của đội tuyển quốc gia. Một khối lượng đáng kể cổ động viên cũng như những người trong ban lãnh đạo câu lạc bộ không muốn United mất những cầu thủ chất lượng cho đội tuyển quốc gia. Đây là xu hướng của những câu lạc bộ Anh và châu Âu, bóng đã thế giới bị thống trị bởi cấc câu lạc bộ lớn và giải đấu mang lại nhiều lợi nhuận Champions League.



    Europe

    Manchester United là câu lạc bộ đi đầu của bóng đá Anh trên đấu trường châu Âu, mùa giải 1956 khi câu lạc bộ giành được cúp FA và tham gia vào các giải đấu của châu Âu. Trong mùa giải trước Chelsea đã từ chối tham dự, nhưng những người trung lập cho rằng bóng đá Anh suy tàn kể từ khi thật bại trước đội tuyển Hungary với tỉ số 6 – 3 trên sân vận động Wembley năm 1953. Đội tuyển Anh không còn là đội bóng xuất sắc của thế giới nữa .

    Sir Matt Busby đã đẫn dắt câu lạc bộ đi đến vòng bán kết của cúp châu Âu năm 1956 trước khi để thua đội bóng hùng mạnh lúc bấy giờ là Real Madrid. Đến năm 1958 thảm hoạ tại Munich đã cướp đi gần như toàn bộ đội hình của United và đã làm câu lạc bộ suy yêú đi rất nhiều. Một thập kỷ sau thảm hoạ Munich United trở thành đội bóng đầu tiên của Anh quốc giành chức vô địch châu Âu năm 1968 và United cũng là đội bóng dẫn đầu vương quốc Anh trở lại đấu trường châu Âu sau thảm hoạ Heysel, câu lạc bộ đã giành thêm một chiếc cúp C2 vào năm 1991. Đến năm 1999 những màn trình diễn tuyện vời trong mùa giải đó đã mang lại cho Manchester United chiếc cúp Champions League lần thứ 2 trong lịch sử và đưa bóng đá Anh trở lại những thành công trên đấu trường châu Âu.
     
  16. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    F



    FA Cup
    [​IMG]

    United đang nắm giữ kỷ lục về thành tích tại cúp FA khi giành được nhiều thắng lợi trong 10 năm qua. Bốn trong những chiến thắng đó diễn ra ở những năm 90 của thế kỷ 20. Nhưng sau thành công giành được cú ăn ba vào năm 1999. Câu lạc bộ đã hy sinh không thi đấu tại cúp FA để tham gia giải vô địch các câu lạc bộ thế giới. Vì mục đích giúp nước anh có điểm trong cuộc chạy đua giành vé đăng cai World cup 2006 .

    ManUtd đã có những trận đấu ấn tưọng ở cúp FA. Đó là trận bán kết vĩ đại Arsenal vào năm 1999, chiến thắng 2-1 trước Liverpool vào năm 1985, hoà 3-3 với Crystal Palace ở chung kết năm 1990 và và trận chung kết gặp Blackpool năm 1948 được đánh giá dưới con mắt nhiều người đó là 1 trận đấu vĩ đại của những trận đấu vĩ đại .

    Mark Hughes ghi bàn vào những phút cuối trước Oldham ở bán kết cúp FA năm 1994 , Ryan Gígg ghi bàn thắng đẹp trước Arsenal vào năm 1999 và Eric Cantona giúp đội giành thắng lợi ở những phút cuối trước Liverpool vào năm 1996 là những trận đấu hay của ManUtd .



    Vùng viễn đông (Far East, The)

    Manchester United là 1 câu lạc bộ được yêu thích ở các nước Đông và Đông Nam Á như Trung quốc, Nhật bản, Malaysia, Inđônesia, Thái lan, Singapo và cả Việt Nam. United có kế hoạch dành cho Megastore ở Jakarta, Singapo, Hongkong . Tokyo và Thượng Hải sẽ đưọc đầu tư tiếp theo.

    Nếu United có thể lập được kỳ tích vì họ không có đối thủ , được thán phục ở chính vùng đất có lợi này. Tại đây Manchester United luôn thi đấu thành công và đạt kết quả cao.



    Ferdinand, Rio

    [​IMG]

    Quốc tịch Anh
    Ngày sinh 7/11/1978
    Số lần khoác áo 72(1)
    Số bàn thắng 0

    Rio Ferdinand hiện vẫn là hậu vệ đắt giá nhất thế giới, sau vụ chuyển nhượng từ Leeds United sang Manchester United với cái giá 30 triệu năm 2002. Anh đã tự "phá" kỷ lục của bản thân mình khi trước đó, Leeds cũng đã phải trả Westham 18 triệu để có được sự phục vụ của hậu vệ tài năng này.

    Rio Ferdinand được kỳ vọng là hậu vệ xuất sắc nhất nước Anh, ngay sau khi gia nhập đội 1 Westham khi mới 17 tuổi. Ngay sau khi cùng Westham lọt vào chung kết FA Cup, anh đã được gọi vào đội tuyển QG Anh.

    Tại World Cup 2002, Ferdinand đã ghi được bàn thắng đầu tiên trong màu áo ĐTQG vào lưới Đan Mạch, và mặc dù thất bại trước Brazil, anh vẫn là cầu thủ xuất sắc nhất của ĐT Anh tại giải đấu này. Điều này đã khiến United phải suy nghĩ kỹ trước khi chính thức đưa ra lời đề nghị với Leeds. Mùa bóng 2001/2002 trắng tay với một hàng thủ không thể tồi tệ hơn đã khiến United quyết định đầu tư vào siêu trung vệ này, mặc dù biết cái giá sẽ không hề rẻ. Trong hoàn cảnh Leeds chìm ngập trong nợ nần, United đã thành công trong việc ký hợp đồng với Ferdinand với mức giá kỷ lục. Rio cũng là hợp đồng duy nhất của Manchester United ở mùa chuyển nhượng đó.

    Tuy nhiên, chấn thương đã đến ngay trước khi Ferdinand khởi đầu sự nghiệp tại Old Trafford. Phong độ vì thế mà giảm sút, và lời chỉ trích cái giá trên trời United trả cho Leeds là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên nhờ sự có mặt của Rio, United đã giành lại ngôi vị số một ở Anh bằng một cuộc nước rút rất ngoạn mục trước Arsenal. United đăng quang năm 2002/2003 với 5 điểm cách biệt.

    Mùa giải 2003/2004 chắc chắn sẽ là một kỷ niệm không thể quên đối với Rio. Tháng 1, United vẫn đang dẫn đầu bảng xếp hạng với một phong độ gần như là không thể đánh bại. Nhưng rồi Rio vướng phải một vụ scandal không thể ngờ được, và vì buổi chiều quên thử doping định mệnh đó, anh đã bị FA phạt treo giò 8 tháng, có nghĩa là phần c⮠?ại của mùa giải, cùng với cơ hội được góp mặt tại Euro 2004. Thiếu mất hòn đá tảng ở hàng phòng ngự, United tuột dốc không phanh và kết quả là bị cả Arsenal lẫn Chelsea vượt mặt vào cuối mùa bóng. FA Cup là danh hiệu vớt vát được trong mùa giải đó.

    Tuy nhiên, một cầu thủ lớn không phải là người tránh được mọi vấp váp, mà phải là người biết vượt qua được những thử thách. Rio chắc chắn là một cầu thủ như thế. Trở lại sau án treo giò định mệnh đó, không ai ngờ phong độ của Rio lại tuyệt vời đến thế. Chắc chắn, bình tĩnh và không kém phần bùng nổ, anh là nền tảng vững chắc cho 2 trận thắng liên tiếp của United trước Liverpool và Tottenham, đem lại hy vọng cho United trong cuộc đua giành vị trí số 1 của mùa giải 2004/2005

    Thành tích với United: 2003 VĐQG



    Fortune, Quinton

    Quốc tịch Nam Phi


    Ngày sinh 21/5/1977
    Số lần khoác áo 63(30)
    Số bàn thắng 10

    Rời quê hương sang châu Âu thử vận may từ tuổi 14, Quinton Fortune chơi cho đội trẻ Tottenham Hotspur trước khi chuyển đến Tây Ban Nha đá cho Mallorca rồi Athletico Madrid. Ngày 21 tháng 8 năm 1999, anh từ giã Athletico để đến với MU, giá chuyển nhượng 1.5 triệu bảng.

    Không cạnh tranh nổi với Ryan Giggs bên hành lang trái, nên Fortune thường được HLV Ferguson xếp đá ở hàng hậu vệ. Đáng tiếc là những chấn thương liên miên khiến anh ít có cơ hội ra sân. Lần chấn thương nặng nhất của anh là bị gãy chân vào mùa 2002-03. Đến mùa giải 2005-2006, Fortune đã phải rời sân Old Trafford vì không tìm được 1 vị trí chíng thức.

    Fortune chơi cho đội tuyển quốc gia từ năm 1996. Anh khóac áo Nam Phi tại 2 kỳ World Cup 1998 và 2002.

    Thành tích với United: 1999 Cúp liên lục địa
     
  17. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    TIếp theo là HLV giàu thành tich nhất nhất nước anh

    SIR ALEX FERGUSON

    [​IMG]

    Một năm mới đã tới, với cá nhân ngài Alex Ferguson huấn luyện viên thành công nhất trong lịch sử bóng đá Anh thì ngày cuối năm 31/12 là ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời, ông sẽ buớc sang tuổi 65 - độ tuổi lão làng với 1 huấn luyện viên bóng đá.

    Sinh ngày 31/12/1941 tại Govan ,Glasgow, ông vừa kỉ niệm ngày sinh của mình bằng 1 món quà là chiến thắng của các học trò trước đội bóng khó chịu Boro ngay trên sân khách với tỉ số 2-0.Điều đáng nói hơn bàn thắng mở tỉ số đã được ghi bởi 1 cầu thủ Scotland Darren Fletcher,đồng hương của ông. Tuy đã ngoại lục tuần nhưng tham vọng thành công của ngài Alex cùng với bầy Quỷ Đỏ vẫn không hề suy giảm mà còn hơn thế ngài "máy sấy tóc"đang từng bước tạo dựng 1 thế hệ vàng thứ 2 của riêng mình sau những Ryan Giggs ,Paul Scholes,David Beckham ,anh em nhà Neville..etc. Liệu tham vọng đó của Sir có thể thành hiện thực? Người ta đang trông chờ 1 thế hệ cầu thủ trẻ giống như lớp cầu thủ "Busby babes", những cầu thủ làm nền tảng cho chiếc cúp C1 đầu tiên của United.

    Giai đoạn 1941-1951:

    Alex Ferguson vẫn còn lấy làm tự hào vì đã lớn lên giữa những xưởng đóng tầu của Govan.Nếu được chọn ngày sinh chắc hẳn cậu bé Alex đã không chọn ngày 31/12 vì nó quá gần với lễ Giáng Sinh và như thế có nghĩa là sẽ chỉ có 1 món quà thay vì 2 vào dịp cuối năm. Do vậy trong suốt những năm thời niên thiếu cậu bé Alex chỉ mong 1 món quà là quả bóng để chơi đùa là đã cảm thấy thỏa mãn lắm rồi.

    Giấc mơ trở thành cầu thủ bóng đá đã chiếm lấy gần hết thời gian học tập của cậu trong những năm đầu tiểu học khi Alex chơi cho đội bóng có tên Govan Rovers gồm những cầu thủ được tuyển mộ trong khu nhà cậu bé sống.

    Gia nhập đội bóng khi mới 7 tuổi,không có lấy một đôi giầy của chính mình. Nhờ có một người hàng xóm tốt bụng mà Alex cũng có được 1 bộ quần áo may sẵn.Vào thời điểm đó Alex ước ao một ngày nào đó được khoác lên mình bộ đồng phục của câu lạc bộ nổi tiếng nhất Scotland ,Rangers.Việc học hành ở truờng học đã không được chú tâm mặc dù thầy giáo của Alex đã phát hiện được tố chất thông minh sáng dạ của cậu học trò và Alex đã không gặp may khi phải học lại 1 năm do bị ốm. Nhưng với khả năng sáng dạ sẵn có của mình ,cậu bé Alex đã tự vực dậy và vuợt qua theo cách của riêng mình.

    1951-1961:

    Đây là giai đoạn mà thế hệ học sinh và tiền đạo trong đội bóng trường trung học Govan đã tốt nghiệp đang chơi cho St Johnstone, với rất nhiều vinh quang cấp quận cũng như quốc tế.

    Năm 16 tuổi Alex gia nhập Queen's Park,một đội bóng nghiệp dư và được chơi trận đầu tiên trong đội hình xuất phát với đối thủ Stranraer. Một quan chức của thị trấn Hampden trong thời gian nghỉ giải lao giữa giờ đã đến quở trách Alex thi đấu thiếu tích cực. "Nhưng hậu vệ trái của trái của họ chơi xấu tôi" Alex phản ứng."Vậy thì đá văng anh ta về phía sau" vị quan chức nói.

    Ferguson sau một vài năm gắn bó cùng Queen's đã chuyển sang chơi cho St Johnstone. Vẫn chỉ là một cầu thủ nghiệp dư nhưng với sự trợ giúp hết mình của người cha, Alex đã trở thành 1 cầu thủ chuyên nghiệp điều đó đồng nghĩa với việc anh có thể đóng góp vào thu nhập chung của gia đình.

    1961-71:

    Có lẽ chàng trai trẻ Alex sẽ nhớ nhất khoảng khắc khi được vào sân thay người từ băng ghế dự bị trong một trận đấu gặp Rangers trên sân vận động Ibrox năm 1963. Đáng nhớ bởi lẽ Alex mới chỉ là nguời thứ 2 ghi được 1 hattrick vào lưới đội bóng hùng mạnh Rangers trên sân của họ, mà đặc biệt anh chỉ được vào sân từ băng ghế dự bị.

    Trước đó câu lạc bộ chủ quản St JohnStone đã muốn đẩy chàng trai trẻ Alex tới Raith Rovers nhưng Alex đã từ chối chuyển nhuợng. Và rồi Alex đã gia nhập Dunfermline theo với 1 bản hợp đồng hoàn chỉnh vào năm 1964.

    Jock Stein ,huấn luyện viên nổi tiếng của Dunfermline lúc đó đã đang xây dựng 1 tham vọng chinh phục Châu Âu dựa vào những gì mà họ có đặc biệt là nhân vật mới đến, Alex. Có được Alex trong đội hình, Dunfermline thi đấu nổi bật hẳn ,ghi được 45 bàn thắng trong 51 trận một mùa giải. Ngay lập tức các câu lạc bộ lớn hơn bắt đầu phải lưu tâm.

    Ghi được 23 bàn thắng ngay mùa giải đầu tiên cho Dunf, Alex trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất của đội bóng. Nhưng sự ra đi của huấn luyện viên tài năng Colin Stein sang Hibs,mùa giải thứ 2 của Alex ở Dunf thật đáng quên, đỉnh điểm là trận chung kết cúp Scotland gặp Celtic năm 1969 khi Alex đã không kèm nổi Billy McNeill ghi bàn thắng đầu tiên trong 4 bàn của Celtic chỉ trong vòng có vài phút.Nó đặt dấu chấm hết cho sự nghiệp của Alex tại sân vận động Ibrox,mà lí do chính của sự đối xử bất công này thì mãi về sau Alex mới phát hiện ra là do người vợ của mình, Cathy Holding là một người Công giáo.

    Những tuởng Nottingham Forest sẽ là điểm đến mới của Alex nhưng thay vì đó là câu lạc bộ Falkirk, một câu lạc bộ nghiệp dư.

    1971-81:

    Giai đoạn này Alex đã bắt đầu chuyển hướng sang sự nghiệp huấn luyện viên, ông đã vuợt qua tất cả các kì kiểm tra tại Largs, là nơi đầu tiên Alex biết đến 1 người đàn ông đã trở thành 1 nhà quản lí vĩ đại, Jim McLean.

    Sau khi chuyển tới chơi cho Falkirk, Alex đã giúp câu lạc bộ thăng hạng năm 1970 và tiếp tục cống hiên cho đội bóng thêm 3 năm trước khi chuyển đến Ayr United chơi mùa giải cuối cùng với tư cách 1 cầu thủ.

    Và rồi bước ngoạt định mệnh đã đến khi East Stirling có lời mời ông về dẫn dắt đội vào năm 1974. Ông đã gây được ấn tượng với ban lãnh đạo câu lạc bộ, chỉ trong vài tháng và đó là lí do St Mirren đưa ông về với đội bóng.

    Vào thời điểm ông đến, đội bóng đang rất tiều tuỵ tại giải hạng nhất(cũ), như bắt được vàng họ đã dành cho ông những sự cổ vũ và tin tưởng gần như tuyệt đối bởi nguồn năng lượng mà ông mang đến câu lạc bộ và khả năng chuyên môn thuần phục của mình.

    Dưới sự dẫn dắt của Alex, St Mirren đã thăng hạng năm 1977 với tư cách nhà vô địch và khi một loạt những xung đột cá nhân chấm dứt thì cũng là lúc ông bị sa thải ngay mùa bóng đầu tiên tại Premier Division (Giải vô địch quốc gia Scotland). Dẫn dắt St Mirren khá thành công với nguồn lực giới hạn nhưng đã bị sa thải bất ngờ sau 3 năm. Ngay lập tức câu lạc bộ Aberdeen biết rằng họ đã tìm được người thay thế Billy McNeill, và huyền thoại về 1 huấn luyện viên mang tên Alex Ferguson bắt đầu từ đây.

    Một lần nữa với nguồn nội lực có hạn của đội bóng ông đã biến Aberdeen,từ một đội bóng thuờng thuờng bậc trung thành đội bóng hùng mạnh của bóng đá Scotland suốt những năm đầu của thập niên 1980 phá vỡ sự thống trị của 2 đội bóng giầu truyền thống Glasgow Celtic và Rangers
     
  18. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    1971-81:

    Giai đoạn này Alex đã bắt đầu chuyển hướng sang sự nghiệp huấn luyện viên, ông đã vuợt qua tất cả các kì kiểm tra tại Largs, là nơi đầu tiên Alex biết đến 1 người đàn ông đã trở thành 1 nhà quản lí vĩ đại, Jim McLean.

    Sau khi chuyển tới chơi cho Falkirk, Alex đã giúp câu lạc bộ thăng hạng năm 1970 và tiếp tục cống hiên cho đội bóng thêm 3 năm trước khi chuyển đến Ayr United chơi mùa giải cuối cùng với tư cách 1 cầu thủ.

    Và rồi bước ngoạt định mệnh đã đến khi East Stirling có lời mời ông về dẫn dắt đội vào năm 1974. Ông đã gây được ấn tượng với ban lãnh đạo câu lạc bộ, chỉ trong vài tháng và đó là lí do St Mirren đưa ông về với đội bóng.

    Vào thời điểm ông đến, đội bóng đang rất tiều tuỵ tại giải hạng nhất(cũ), như bắt được vàng họ đã dành cho ông những sự cổ vũ và tin tưởng gần như tuyệt đối bởi nguồn năng lượng mà ông mang đến câu lạc bộ và khả năng chuyên môn thuần phục của mình.

    Dưới sự dẫn dắt của Alex, St Mirren đã thăng hạng năm 1977 với tư cách nhà vô địch và khi một loạt những xung đột cá nhân chấm dứt thì cũng là lúc ông bị sa thải ngay mùa bóng đầu tiên tại Premier Division (Giải vô địch quốc gia Scotland). Dẫn dắt St Mirren khá thành công với nguồn lực giới hạn nhưng đã bị sa thải bất ngờ sau 3 năm. Ngay lập tức câu lạc bộ Aberdeen biết rằng họ đã tìm được người thay thế Billy McNeill, và huyền thoại về 1 huấn luyện viên mang tên Alex Ferguson bắt đầu từ đây.

    Một lần nữa với nguồn nội lực có hạn của đội bóng ông đã biến Aberdeen,từ một đội bóng thuờng thuờng bậc trung thành đội bóng hùng mạnh của bóng đá Scotland suốt những năm đầu của thập niên 1980 phá vỡ sự thống trị của 2 đội bóng giầu truyền thống Glasgow Celtic và Rangers.

    1981-91:

    Không phải vì điều gì mà Alex Ferguson được biết đến với biệt danh máy sấy tóc(hair-drier). Bất cứ cầu thủ nào khi đi qua ông đều được hâm nóng những lời thủ thỉ ông rót vào tai.

    Và sau đó trong phòng thay đồ giữa mỗi hiệp đấu, họ có thể phải tránh né những chiếc ly trà vỡ bay về phía mình có chủ ý.Fergie, một con người luôn yêu cầu các mệnh lệnh phải được tôn trọng như một yêu cầu thành công vậy.

    Ông không phải là không có may mắn, vì được sở hữu và kế thừa những cầu thủ như Willie Miller, Alex McLeish, Stuart Kennedy và Gordon Strachan. Nhưng với những bản hợp đồng cầu thủ của riêng mình, Fergie đã biến Aberdeen trở thành 1 đội bóng thiện chiến.

    Đỉnh cao của thời kì hoàng kim này với Aberdeen đó là chiếc cúp Winner Cup (C2) năm 1983 với chiến thắng 2-1 trước đội bóng Real Madrid hùng mạnh của Châu Âu tại Gothenburg, đó là danh hiệu Châu Âu cuối cùng của 1 đội bóng Scotland cho đến tận ngày nay. Sau thành công vang dội với Aberdeen tại đấu trường Châu Âu,hàng loạt đội bóng lớn đã tiếp cận ông trong đó có những cái tên như Barcelona, Arsenal, Rangers and Tottenham (đội bóng mà ông đặc biệt lưu tâm)..nhưng số mệnh đã chỉ định ông chỉ có thể là người của Manchester United.

    Các cổ động viên của Aberdeen đã tôn vinh ông là 1 con người kì diệu và ông đã đáp trả lại lòng tin của họ bằng việc ở lại thêm 1 vài mùa bóng sau khi đã có được chiếc cúp Châu Âu (C2) và vì danh hiệu Premier Division thứ 2.

    Thành công tiếp tục đến với The Dons, vào mùa giải 1985-1986 khi họ đoạt cú đúp vô đich quốc gia và đoạt cúp quốc gia Scotland cũng là lúc họ không thể tiếp tục giữ Alex Ferguson ở lại bên mình được nữa. Và ở bên kia nước Anh, Manchester United đang trên đuờng tìm lại vinh quang của quá khứ đã thành công trong việc lôi kéo Ferguson đến với nhà hát của những giấc mơ "Old Trafford". Và 7/11/1986 là cái ngày Alex Ferguson chính thức trở thành người dẫn dắt 1 trong những câu lạc bộ giầu truyền thống nhất Anh,Manchester United.

    Năm đầu tiên của Fergie tại Old Trafford thật khó khăn vì phải xây dựng lại toàn bộ đội bóng ,những khó khăn luôn tìm đến ông và đã có lúc tuởng như Fergie đã bị sa thải cho đến khi United có được chiếc cúp FA vào năm 1990.

    Việc đầu tiên khi đến với Quỷ Đỏ là ông phải đưa câu lạc bộ thoát khỏi tình trạng tồi tệ mà người tiền nhiệm Ron Atkinson đã để lại.Giải quyết xong nó thì lại còn vấn đề khác khiến Fergie phải đau đầu, tình hình tài chính của câu lạc bộ rất tồi tệ. Fergie ngay lập tức quyết định bắt tay vào xây dựng lại hệ thống cầu thủ trẻ, một sự gây mầm cho tương lai,một quyết định mà đã mang đến cho ông biết bao điều phiền toái nhưng nó là 1 quyết định sáng suốt nhất mà ông sẽ còn phải nhớ mãi.Fergie lưu tâm đến từng khía cạnh cuộc sống của câu lạc bộ,luôn là người đầu tiên đến sân và người sau cùng ra về đã trở thành 1 thói quen của Fergie. Mark Hughes được đưa về từ Barcelona, Steve Bruce, Brian McClair, Gary Pallister và Paul Ince lần luợt đến nhưng United vẫn chưa thể lật đổ sự thống trị của những nhà vô địch Liverpool. Tuy nhiên ngay sau mùa bóng đứng ở vị trí thứ 2 đáng khâm phục năm 1988, thì mùa bóng sau đó lại khiến các cổ động viên phải tức giận khi dẫn dắt đội bóng tụt xuống vị trí thứ 11. Kèm theo đó là những nghi ngờ về khả năng chỉ đạo, dẫn dắt United của Alex Ferguson.Đây là giai đoạn đầy khó khăn thử thách đối với Fergie, nếu để thua Nottingham Forest tại vòng 3 cúp FA (1990) Fergie sẽ bị sa thải, đó là lời cảnh báo của Martin Edwards, chủ tịch lúc bấy giờ của United. Tuy nhiên thật may cho Fergie và cũng là cho United khi Forest đã bị từ chối một bàn thắng,United đã giành chiến thắng chung cuộc với tỉ số 1-0. Tiếp tục trên đà thắng lợi, United đã đoạt chiếc cúp FA năm đó, danh hiệu đầu tiên của Alex tại Old Trafford và là chiếc cúp FA thứ 7 của câu lạc bộ.Và kể từ đó Fergie đã chiếm 1 vị trí đặc biệt trong tim người hâm mộ đội bóng Quỷ Đỏ, ở Alex Ferguson họ đã thấy một niềm tin.

    1991-2001:

    Dù rất khát khao giành chức vô địch Anh tuy nhiên duờng như ông tỏ ra có duyên với cúp C2 khi một lần nữa cùng với Quỷ Đỏ giành chiến thắng 2-1 trong trận chung kết trước Barcelona tại Rotterdam, Hà Lan. Cả 2 bàn thắng của ManUtd đều được ghi do công của Mark Hughes cầu thủ trước đó không lâu còn khoác áo Barca. Alex còn cho thấy cái duyên của mình với các giải đấu cúp bằng 1 chiếc cúp Liên đoàn mùa giải sau đó (1992). Ngay cả với sự xuất hiện của Ryan Giggs và nhà vô địch Euro 92 Peter Schmeichel ,danh hiệu vô địch giải bóng đá cao nhất nước Anh vẫn không hề ngó ngàng đến sân Old Trafford. Một lần nữa năng lực của huyến luyện viên Alex Ferguson lại bị các cổ động viên đặt lên bàn cân.Vào thời điểm đó Leeds làm mưa làm gió giải Anh với nhân tố chính là một nguời Pháp mang tên Eric Cantona và khi các cổ động viên sân Elland Road coi Eric là thần tuợng và hô vang "Ohh-Ahh-Cantona" mỗi khi anh vào sân thi đấu thì tháng 11/92 chỉ sau 13 trận trong mùa giải mới cho Leeds United,Eric Cantona bất ngờ trở thành người của đội bóng kình địch Man United với cái giá chỉ 1.2 triệu bảng,một cú sốc quá lớn với các fan ruột của Leeds United.Đây là một trong những thương vụ mua bán cầu thủ hời nhất trong lịch sử bóng đá Anh, 1.2 triệu bảng cho một huyền thoại. Eric Cantona chính là miếng ghép cuối cùng trong đội hình của Alex Ferguson và rồi sau 26 năm chờ đợi dài đằng đẵng cũng đã kết thúc trong hân hoan vào ngày 02/3/1993 khi ManUnited trở thành nhà vô địch nuớc Anh. Với Cantona, United đã chơi thứ bóng đá hấp dẫn nhất hành tinh trong suốt thập kỉ 90 và 1 đế chế Quỷ Đỏ bắt đầu được hình thành với liên tiếp những thành công cả trong nước và quốc tế đỉnh điểm là cú ăn ba vĩ đại (Champions league, Premierleague, FA Cup) mùa hè 1998-1999 trên sân vận động Nou Camp của Barcelona. Trong giai đoạn thống trị bóng đá Anh đó không thể không kể đến 1 thế hệ trẻ do chính Alex Ferguson nhào nặn,đó là những Ryan Giggs, Nicky Butt, Paul Scholes, David Beckham và anh em nhà Neville. Một thế hệ từng được so sánh với thế hệ "Busby babes" thập niên 50-60. Dù cho bóng đá Anh đã từng sản sinh ra những huấn luyện viên huyền thoại như Busby, Shankly, Stein, Paisley và Clough nhưng không có ai xuất sắc hơn "món quà" dành cho United từ vùng Govan.

    Nhớ lại khoẳng khắc của cú ăn ba vĩ đại người ta mới càng thấy khâm phục tài dùng binh của ngài Alex Ferguson. Khởi đầu mùa giải 98/99 với tâm lí khá nặng nề bởi thất bại trước Arsenal tại giải ngoại hạng Anh khi kết thúc mùa bóng 97/98, ngài Alex quyết chơi bài liều và lôi bằng được 2 cầu thủ mà sau này đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mùa giải kì điệu đó, đó là tiền đạo da mầu đến từ Aston Villa Dwight Yorke và trung vệ thép người Hà Lan của PSV Japp Stam với số tiền 23 triệu bảng. Cũng như bản hợp đồng với King Eric, Dwight Yorke và Japp Stam đến với ManUtd có đôi chút gì đó gấp gáp vội vàng. Tại United ngài Alex đã biết kết hợp một Andy Cole chỉ thích đá 1 mình với Yorke thành 1 cặp tiền đạo sát thủ nhất Châu Âu lúc bấy giờ. Những cú bỏ bóng hay chuyền bóng không cần nhìn chính xác đến từng cm của cả 2 khi phối hợp đã làm điên đảo biết bao hàng phòng ngự Châu Âu trong đó có những chuyên gia phòng ngự nổi tiếng như Juventus,đ ội bóng lúc đó vẫn được coi là trên United 1 bậc với biệt danh "Bà đầm già" thành Turin. Và khi họ tỏ ra mệt mỏi với những bước chân mỏi mệt thì đã có Ole Solskjaer và Teddy Sheringham đang ở đỉnh cao phong độ. Một còn khá trẻ với biệt danh "Sát thủ có bộ mặt trẻ thơ" và một là lão tướng nhưng cả 2 đều có chung một điểm là rất khát khao ghi bàn khi được vào sân và tỏ ra rất duyên với biệt danh "siêu dự bị". Minh chứng rõ nhất là thời khắc lịch sử trong trận chung kết cúp C1 98/99,khi được vào sân thay người cả 2 đã có được bàn thắng vào những giây cuôí cùng của trận đấu cuớp đi chiến thắng tuởng như đã nằm chắc trong tay của Bayern Munich.Đó không những là 2 bàn thắng lịch sử và đáng nhớ nhất trong cuộc đời của Sol và Teddy mà còn là 2 bàn thắng lịch sử của cúp Châu Âu trong 1 trận chung kết lịch sử.

    Trước đó không lâu tại FA cúp, giải đấu đầu tiên trong cú ăn 3, United đoạt được vinh quang, với những thiên thần của mình United đã vuợt qua tất cả những đối thủ chính trên con đường tiến tới trận chung kết FA. ần luợt Liverpool, Chelsea và Arsenal đều trở thành bại tuớng dươí tay của Quỷ Đỏ. áng nhớ nhất trong số đó là trận đấu gặp Arsenal tại bán kết FA,Giggsy đã ghi 1 bàn thắng có lẽ là đẹp nhất trong sự nghiệp của anh khi cướp được bóng sau pha chuyền hỏng của Viera vuợt qua 4,5 cầu thủ của Arsenal trước khi sút tung nóc lưới của thủ thành David Seaman.Bàn thắng thể hiện 1 kĩ năng đi bóng siêu phàm của nhà ảo thuật xứ Wales Ryan Giggs. Nhưng nếu như không có pha cản phá Penalty xuất thần của người khổng lồ Đan Mạch Peter Schmeichel thì cúp FA đã không thể ghi nhận 1 bàn thắng tuyệt đến như vậy. Và chiến thắng trước Newcastle 2-0 một tuần sau đó là điều hiển nhiên cho những nỗ lực tuyệt vời của thầy trò ALex Ferguson.

    2001-

    Vinh quang gắn liền với huy chương và danh dự, sau 1 mùa giải thần kì với cú ăn 3 vĩ đại cùng với ManUtd, Alex Ferguson đã được tôn vinh và được chính Nữ Hoàng Anh phong tước hiệp sĩ. Sir Alex Ferguson, ngài xứng đáng đuợc gọi như vậy với những đóng góp và cống hiến của mình cho bóng đá Anh nói chung và Quỷ Đỏ nói riêng.

    Mới đây ngày 24/11/2004, Sir ALex Ferguson đã kỉ niệm trận đấu thứ 1000 của mình với Quỷ Đỏ khi dẫn dắt United giành thắng lợi 2-1 trước Olympique Lyon trong khuôn khổ Champions league(Cúp C1) Châu Âu.

    Chiến thắng thứ 564 trong 18 năm tại Old Trafford đã đảm bảo cho United một suất tại vòng knockout Champions League 2004/2005.

    "Đó là 1 đêm tuyệt diệu với cá nhân tôi", Sir Ferguson xúc động nói: "Mọi ngày tôi đã hơi nóng nẩy nhưng tôi tiếp tục nói với mình rằng đó là trận thứ 999 khác mà cũng rất quan trọng."

    Rất tự hào về màn trình diễn của các học trò mình Sir Alex nói "Tôi nghĩ đây là 1 trận cầu chất luợng, Lyon đã chơi hết mình và tôi hài lòng với đội bóng của mình"

    "Đám đông cổ động viên cũng thật tuyệt vời khi họ luôn miệng hát "Hãy đứng lên nếu bạn yêu Fergie"("stand up if you love Fergie") trong suốt trận đấu".

    Chúng ta có thể ngồi hàng giờ, viết cả ngày và nghe quanh năm về Sir Alex Ferguson về những gì ông đã cống hiến cho Quỷ Đỏ nói riêng và cho bóng đá Anh nói chung.Những gì tôi viết và tổng hợp trên đây chỉ là chút chấm phá nhỏ nhoi trong sự nghiệp vàng son của ngài Alex,huấn luyện viên xuất sắc nhất trong lịch sử bóng đá Anh và Quỷ Đỏ Man United.

    Tiểu sử và vinh quang của Sir Alex Ferguson :

    - Tên đầy đủ: Alexander Chapman Ferguson

    -Ngày sinh:31/12/1941 -Nơi sinh: Govan, Glasgow

    - Ngày dẫn dắt United: 7/11/1986

    - Bảng thành tích:(chỉ tính các giải đấu chính FA cup, P.L, Cúp Châu Âu và liên lục địa)

    - 1980 Scottish Premier League

    - Winner 1982 Scottish League Cup

    - Winner 1982 Scottish FA Cup

    - Winner 1983 Scottish FA Cup

    - Winner 1983 European Cup Winners Cup

    - Winner 1984 Scottish FA Cup

    - Winner 1984 Scottish Premier League

    - Winner 1985 Scottish Premier League

    - Winner 1986 Scottish FA Cup

    - Winner 1990 F.A. Cup

    - Winner 1991 European Cup Winners Cup

    - Winner 1991 European Super Cup

    - Winner 1992 League Cup

    - Winner 1993 F.A. Premier League

    - Winner 1994 F.A. Premier League

    - Winner 1994 F.A. Cup

    - Winner 1996 F.A. Premier League

    - Winner 1996 F.A. Cup

    - Winner 1997 F.A. Premier League

    - Winner 1999 F.A. Premier League

    - Winner 1999 F.A. Cup

    - Winner 1999 European Champions League

    - Winner 1999 Intercontinental Cup

    - Winner 2000 F.A. Premier League

    - Winner 2001 F.A. Premier League

    - Winner 2003 F.A. Premier League

    - Winner 2004 F.A. Cup - Winner
     
  19. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    G

    Giggs, Ryan

    [​IMG]

    Quốc tịch Xứ Wales
    Ngày sinh 29/11/1973
    Số lần khoác áo 531(60)
    Số bàn thắng 122

    The Welsh Wizard Ryan Giggs, anh đã từng có tên trong những cuốn sách của Manchester City khi còn là 1 cậu học sinh cắp sách tới truờng nhưng vào lần sinh nhật lần thứ 14 ngài Alex Ferguson đã xuất hiện trước thềm cửa nhà với 1 bản thảo hợp đồng trên tay và Giggsy kí hợp đồng với ManUtd ngay ngày sinh nhật lần thứ 14 của mình.

    Sinh ra tại Cardiff vào ngày 29/11/1973 Giggs đã chơi bên cánh trái của United kể từ năm 1991. 17 tuổi được chơi cho một câu lạc bộ nổi tiếng bậc nhất Anh Quốc và được ví với huyền thoại trên sân Old Trafford George Best .

    Trong suốt 2 thập kỉ qua những kĩ năng xử lí bóng như ảo thuật cùng cú dốc bóng kinh hồn đã làm hăng say biết bao bình luận viên thể thao và giới mộ điệu trên toàn thế giới. Anh cũng là cầu thủ trẻ nhất trong lịch sử xứ Wales chơi cho đội tuyển khi mới ở độ tuổi 17, và với khá nhiều bàn thắng đã được ghi anh thực sự là tại năng hiếm thấy của xứ Wales nói riêng và liên hiệp Anh nói chung trong mấy chục năm trở lại đây.Giành được danh hiệu cầu thủ trẻ xuất sắc nhất trong năm do hiệp hội các cầu thủ nhà nghề bình chọn ngay năm đầu tiên chơi bóng chuyên nghiệp năm 1991 và anh lại có được vinh dự nhận giải thuởng cá nhân cao quý đó 2 năm sau.

    "Oh tôi ước gì anh ấy là nguời Anh," một cổ động viên người Anh nói với vẻ đầy tiếc nuối. Một vị huấn luyện viên nổi tiếng người Brazil cũng từng nói "Nếu các bạn hỏi tôi ông muốn có cầu thủ ngoài Brazil nào đá trong đội hình Vàng xanh thì tôi sẽ không ngần ngại mà nói ngay đó là Ryan Giggs, cầu thủ mà bất kì huấn luyện viên nào cũng muốn có trong đội hình"

    Giggsy (xin được phép gọi anh như thế) đã cùng với ManUtd giành hết vinh quang này đến vinh quang khác trong đó đáng kể là cú ăn ba vĩ đại (CL-PL-FA) và những cú ăn đúp (FA-PL) khiến ManUtd không những là một quyền lực tại Anh mà còn trở thành 1 trong những câu lạc bộ vĩ đại nhất Châu Âu và Thế giới.Nếu là 1 fan đích thực của ManUtd thì chắc chắn sẽ không thể ai có thể quên được pha đi bóng thần tốc và ma thuật truớc khi sút cháy luới thủ thành David Seaman trong trận bán kết cúp FA gặp Arsenal ,những pha đi bóng đâm thẳng và xuyên thủng vào hàng phòng ngự đối phương và những cú ngoặt bóng vặn suờn đối phuơng ở tốc độ cao -tố chất đặc trưng chỉ có thể thấy ở Giggsy -The Welsh Wizard mà trong lịch sử sẽ không thể kiếm ai người thứ 2.

    Trong pha ghi bàn đáng nhớ có thể nói là nhất trong sự nghiệp của Giggsy ,bàn thắng mà anh sẽ mãi không thể nào quên đó,Giggsy đã đi bóng từ giữa sân vuợt qua 5 hậu vệ của Arsenal với bản năng mà thuờng chỉ thấy ở những thiên tài như Diego Maradona truớc khi buộc thủ thành dầy dặn kinh nghiệm David Seaman phải vào lưới nhặt bóng. Phải chăng đó là 1 trong những bàn thắng mang dấu ấn cá nhân vĩ đại nhất từng được trình chiếu trên Tivi ? Một bàn thắng quyết định cực kì quan trọng trong 1 năm cực kì thành công của Quỷ Đỏ.

    Giggsy chắc hẳn sẽ là 1 một trong những cầu thủ vĩ đại nhất thế giới nếu như anh là người Anh hay một nước có nền bóng đá mạnh nào đó mà không phải xứ Wales - một cánh én không làm nổi 1 mùa xuân, người ta vẫn thuờng nói như vậy khi nhắc đến Giggsy. Nhưng ở anh người ta luôn thấy đuợc sự trung thành, có gì để nghi ngờ độ trung thành với 1 cầu thủ đã cống hiến như cả sự nghiệp của mình cho một đội bóng và hợp đồng hiện tại của anh với Quỷ Đỏ còn 18 tháng nữa mới chấm dứt nhưng mới đây anh đã yêu cầu một bản hợp đồng gia hạn cho phép anh ở lại thêm với Quỷ Đỏ 24 tháng thay vì 12 tháng như câu lạc bộ đề nghị và điều đó đồng nghĩa với việc anh muốn đuợc chấm dứt sự nghiệp tại nhà hát của những giấc mơ Old Trafford. Sẽ thật là tuyệt vời cho các fan nếu như Giggsy cống hiến trọn cuộc đời bóng đá của mình cho Quỷ Đỏ và với tổ quốc anh sẽ là một kì World cup 2006 thành công.

    Đôi chút về thành tích và sự nghiệp thi đấu của Giggsy tính tới thời điểm này :

    Trận đầu tiên trong mầu áo Quỷ Đỏ: 2/3/1991 gặp Everton trên sân nhà .

    Sự nghiệp thi đấu quốc tế với xứ Wales: 8 bàn thắng trong 47 trận

    1991 European Super Cup - Winner
    1992 League Cup - Winner
    1992 F.A. Youth Cup - Winner
    1993 F.A. Premier League- Winner
    1993 F.A. Charity Shield - Winner
    1994 F.A. Premier League - Winner
    1994 F.A. Cup - Winner
    1995 F.A. Charity Shield - Winner
    1996 F.A. Premier League - Winner
    1996 F.A. Cup - Winner
    1996 F.A. Charity Shield - Winner
    1997 F.A. Premier League - Winner
    1997 F.A. Charity Shield - Winner
    1999 F.A. Premier League - Winner
    1999 F.A. Cup - Winner
    1999 European Champions League - Winner
    1999 Intercontinental Cup - Winner
    2000 F.A. Premier League - Winner
    2001 F.A. Premier League - Winner
    2003 F.A. Premier League - Winner
    2003 F.A. Charity Shield - Winner
    2004 F.A. Cup - Winner



    Gregg, Harry



    Quốc tịch Bắc Ailen

    Ngày sinh 25/10/1932

    Số lần khoác áo 247

    Số trận giữ sạch luới 48

    Gia nhập Manchester United năm 1957 với phí chuyển nhượng kỷ lục 23 ngàn 750 bảng cho một thủ môn vào thời điểm đó.
    - Là một thủ môn vĩ đại, và với sự dũng cảm cứu bóng, anh đã nhiều lần bị chấn thương nghiêm trọng nhưng anh hồi phục rất nhanh.
    - Gregg đã giữ sạch lưới 25 lần và đã giúp đội Bắc Ailen vào đến vòng tứ kết tại WC 1958 tại Thuỵ Điển. WC này, anh được bầu là thủ môn xuất sắc nhất.
    - Là người sống sót sau thảm hoạ "đường bay Munich", và đã trở thành người hùng, một tâm gương sáng khi quyết tâm lao vào đám cháy để cố lôi những nạn nhân còn bị kẹt lại trong đó.



    Jimmy Greenhoff




    Quốc tịch Anh
    Ngày sinh 19/6/1946
    Số lần khoác áo 118(4)
    Số bàn thắng 36

    Năm 1977 đã giúp MU đánh bại Liverpool trong trận chung kết cúp FA

    - Là một tiền đạo trung tâm có đẳng cấp, với những cú vô lê thần sầu anh đã trở thành cầu thủ được yêu thích nhất ở MU (được bình chọn là cầu thủ được cổ động viên yêu thích nhất năm 1979)

    - 1968: vô địch cup Fairs trong màu áo CLB Leeds

    - 1972: vô địch cúp liên đoàn trong màu áo CLB Stoke City

    Brian Greenhoff




    Quốc tịch Anh
    Ngày sinh 28/4/1953
    Số lần khoác áo 267(3)
    Số bàn thắng 17

    Tháng 8/1968: gia nhập MU với tư cách một cầu thủ tập sự

    - 8/1973: xuất hiện lần đầu tiên trong màu áo của CLB Ipswich

    - Mùa bóng đầu tiên, anh chơi ở vị trí trung vệ bên cạnh Sammy McIlroy

    - 1977: chơi ở vị trí hậu vệ trụ bên cạnh Martin Buchan.

    - Chơi cho MU đến cuối mùa bóng 1973-1974 và vô địch hạng nhì năm 1975 và vô địch cup FA năm 1975.

    - 1979: bị bán cho CLB Leeds United
     
  20. raymond_wong

    raymond_wong --Destroyer--

    H

    David, Herd

    Quốc tịch Anh
    Ngày sinh 15/4/1934
    Số lần khoác áo 262(1)
    Số bàn thắng 144

    Mạnh mẽ trong không chiến với cú sút đầy uy lực,tiền đạo David Herd đã có 1 tỉ lệ ghi bàn rực rỡ với hơn 1 bàn thắng sau 2 trận đấu.Bên cạnh ngưòi đá cặp Denis Law,những bàn thắng của ông gồm cả 2 bàn thắng trong trận chung kết thắng lợi trứoc Leicester City tại cúp Fa năm 1963.Ông đã ghi đựoc 24 bàn thắng trong năm 1966 và đã có đựoc 2 danh hiệu vô địch giải vô địch các năm 1965 và 1967.1 Chấn thưong gẫy chân đã buộc ông ra khỏi đội hình năm 1967 và sau khi thất bại trong việc lấy lại vị trí của mình,Herd đã chuyển sang chơi cho Stoke City vào 7/1968.Ngày nay ông vẫn là 1 ngưòi nắm giữ vé xem mùa giải ở sân Old Trafford.


    Hill, Gordon

    Quốc tịch Anh
    Ngày sinh 28/6/1947
    Số lần khoác áo 132(1)
    Số trận giữ sạch lưới 51

    Với những bàn thắng và phong cách chơi không thể lưòng trứoc của mình,Gordon Hill đã trở thành 1 cầu thủ đựoc yêu thích của các cổ động viên trung thành United.Phòng ngự không chỉ đơn giản là 1 cụm từ trong từ điển của ông,ông là 1 cầu thủ đá dạt biên và đá cánh nhưng hoàn toàn có thể ghi những bàn thắng.51 bàn thắng trong 132 trận vẫn là 1 trong những tỉ lệ ghi bàn tốt nhất của 1 cầu thủ chạy cánh tại Old Trafford.Hill đã chơi 2 trận chung kết FA Cup,giành 1 huy chưong bạc năm 1976 và 1 danh hiệu vô địch năm 1977.Tuy nhiên,năm 1978,ông bất ngờ bị bán sang Derby bởi huấn luyện viên mới Dave Sexton,nguời muốn 1 lối chơi ít ung dung hơn.



    Howard, Tim

    Quốc tịch Mỹ
    Ngày sinh 6/3/1979
    Số lần khoác áo 44
    Số trận giữ sạch luới 17

    Thủ thành người Mỹ gia nhập Manchester United từ CLB New York/New Jersey Metrostars mùa hè năm 2003, sau 5 năm gắn bó với đội bóng này.Tim đã giành khá nhiều danh hiệu trong khoảng thời gian thi đấu tại quê nhà như Thủ môn xuất sắc nhất trong năm, Nhà hoạt động nhân đạo New York...

    Tim còn được biết đến với nghị lực phi thường của mình. Anh bị chứng động kinh từ khi mới 15 tuổi, và tưởng như không thể thi đấu chuyên nghiệp được với căn bệnh thất thường này. Nhưng Tim đã vượt qua tất cả để chứng minh tài năng và đẳng cấp của mình. Anh không chỉ cống hiến cho bóng đá, mà còn là một trong những thành viên đi đầu của Tổ chức chống hội chứng động kinh bang New Jersey, với mục tiêu mở rộng tầm nhìn của cộng đồng về căn bệnh và những người mắc bệnh

    Gia nhập đội quân Áo đỏ, Tim ngay lập tức khẳng định anh sẽ trở thành người kế vị hoàn hảo cho vị trí của Peter Schemeichel bằng một nửa đầu rất ấn tượng của mùa giải 2003/2004. Tuy nhiên,sau đó phong độ của anh trồi sụt khá thất thường và trong nhiều trận đã mất vị trí chính thức về tay Roy Carroll. Đến mùa giải 2006-2007, anh đã bị mang cho Everton mượn.

    Thành tích với United: 2004 FA Cup



    Hughes, Mark

    [​IMG]

    Quốc tịch Xứ Wales
    Ngày sinh 1/11/1963
    Số lần khoác áo 448(14)
    Số bàn thắng 163

    Nhắc đến các tiền đạo hàng đầu trong kỷ nguyên bóng đá hiện đại vương quốc Anh, không ai có thể bỏ qua được Mark Hughes, chuyên gia của những cú volley “ngả bàn đèn” ngọan mục.
    Hughes không phải là mẫu tiền đạo chuyên săn bàn, song khả năng kiến thiết bóng của ông thuộc vào lọai nhất hạng. Kỹ thuật cá nhân của Hughes cũng không quá xuất sắc, nhưng khả năng cầm, che, và giữ bóng thì khó ai sánh bằng. Hughes là 1 mắt xích cực kỳ quan trọng trong lối chơi phản công nhanh của MU vào cuối những năm 1980 đầu 1990. Mỗi khi các hậu vệ áo đỏ cướp được bóng, họ thường chuyền lên cho Hughes, ông giữ vai trò cầm banh, thu hút hàng thủ đối phương, để các đồng đội có thời cơ băng lên chiếm giữ những vị trí xung yếu. Ngòai sân cỏ, Hughes là người trầm tĩnh, điềm đạm, nhưng trong khi thi đấu thì cũng dũng mãnh chẳng kém chi ai, có những cầu thủ như Hughes thì các trận đấu sẽ chẳng bao giờ nhàm chán.

    Sinh ngày 1 tháng 11 năm 1963 tại Wrexham, Wales, Mark Leslie Hughes được đào tạo ngay chính tại đội trẻ của Manchester United. Năm 1983, Hughes được thăng lên đội 1, thi đấu trận đầu tiên vào ngày 26 tháng 10 gặp Port Vale. 2 năm sau, MU giành chức vô địch cúp FA, còn bản thân Hughes được nhận danh hiệu Cầu Thủ Trẻ Xuất Sắc Nhất nước Anh do Hiệp Hội Các Cầu Thủ Nhà Nghề (PFA) trao tặng. Danh hiệu này hết sức xứng đáng, do Hughes đã thi đấu xuất sắc và ghi được cả thảy 17 bàn trong mùa 1985/1986.( trong suốt những năm còn lại của sự nghiệp, số bàn thắng trong 1 năm của ông không bao giờ đạt được con số này 1 lần nữa). Các CLB lớn của Châu Âu tranh nhau chữ ký của Mark Hughes, và chính Hughes cũng mong muốn được phiêu lưu tại 1 môi trường mới. Năm 1986, ông chuyển sang Barcelona với giá 2 triệu bảng.

    Dường như có 1 cái “dớp” cho các ngôi sao của MU, rằng hễ họ mà rời Old Trafford thì sẽ không còn giữ được phong độ, Mark Hughes cũng không là ngọai lệ. Mùa bóng đầu tiên của ông tại Nou Camp là 1 thảm họa, thi đấu 28 trận chỉ ghi vỏn vẹn được 4 bàn. Sang đến mùa 1987-1988, ông chơi cho Bayern Munich theo hợp đồng cho mượn, thành tích có khá hơn chút ít, với 18 trận và 6 bàn, nhưng so với thời kỳ còn ở MU thì vẫn là quá kém cỏi. Thất vọng vì Hughes, Barcelona rao bán ông sau mùa bóng 1988, và người đầu tiên xếp hàng chờ mua, không ai khác, chính là…ngài Alex Ferguson. Tiền chuyển nhượng lần này là 1 triệu 6, như vậy tổng cộng Hughes rớt giá 400 000 bảng.

    Trở lại Old Trafford, Mark Hughes như cá lại về sông, ông lại tiếp tục phong độ chói sáng, với những đường chuyền sắc sảo, và những cú “ngả bàn đèn” tuyệt vời. Phong độ ấy đã đem lại cho Hughes 2 danh hiệu Cầu Thủ Xuất Sắc Nhất Nước Anh của PFA vào các năm 1989 và 1991. Fan MU mê say các bàn thắng đẳng cấp của Hughes, trong số đó có cú sút từ góc cực hẹp trong trận chung kết Cúp C2 châu Âu năm 1991, đem về thắng lợi cho MU trước Barcelona, cú lốp bóng từ khỏang cách 25 mét tại trận gặp Manchester City năm 1989, và pha volley kinh điển vào phút cuối cùng, gỡ hòa cho Quỷ Đỏ trước Oldham trong trận bán kết cúp FA năm 1994.

    Từ đầu thập niên 1990 trở đi, Mark Hughes cùng MU giành hàng lọat danh hiệu: Cúp FA 1990(Hughes ghi bàn trong trận chung kết MU-Crystal Palace 1-0), cúp C2 và Siêu Cúp châu Âu 1991, League Cup 1992. Từ khi Eric Cantona đến Old Trafford, những thành tích lại càng nhiều thêm , với 2 chức VDQG năm 1993 và cú đúp năm 1994. Tuy không mấy ưa nhau, nhưng trên sân cỏ thì Hughes và Cantona luôn là 1 cặp bài trùng ăn ý. Cặp bài trùng tan rã vào năm 1995, khi ngài Alex Ferguson quyết định trẻ hóa đội hình và đẩy Mark Hughes, lúc ấy phong độ vẫn rất cao, sang Chelsea.

    Suốt trong 1 thập kỷ, Mark Hughes là 1 tượng đài ở Old Trafford, chính vì vậy quyết định bán ông đã gây nên không ít ngạc nhiên, và cả phẫn nộ, cho các fan hâm mộ. Nhưng rồi thời gian đã chứng tỏ quyết định này không gây tổn hại gì đến cả 2 phía, MU vẫn tiếp tục thành công mà không có Hughes, còn Hughes cũng vẫn tỏa sáng tại Chelsea, những bàn thắng của ông có ít đi, nhưng khả năng cầm bóng và kiến tạo vẫn còn đó. Tại Chelsea, Hughes giành thêm 2 cúp FA, và trở thành cầu thủ duy nhất tại Anh 4 lần đọat cúp này. Rời Chelsea năm 1998, ông lần lượt thi đấu cho Southampton (98-00), Everton (00-01) và Blackburn(01-02), trước khi giã từ sân cỏ ở tuổi 39. Trong những năm cuối đời cầu thủ, Hughes chủ yếu giữ vai trò dự bị chiến lược.

    Điều đáng tiếc nhất trong đời Mark Hughes là chưa bao giờ được tham dự 1 giải đấu lớn như World Cup hay Euro, do đội tuyển xứ Wales quá yếu. Ông khóac áo Wales suốt 17 năm, từ 1983 đến 2000, thi đấu 72 trận và ghi được 16 bàn thắng. Từ năm 1999 đến 2004,Mark Hughes cũng đảm nhận luôn cương vị HLV đội tuyển xứ Wales.Tháng 9 năm 2004, ông ký hợp đồng dẫn dắt CLB Blackburn Rovers.

    Danh hiệu:

    1985 FA Cup
    1990 FA Cup
    1991 Cúp C2
    1991 Siêu Cúp Châu Âu
    1992 League Cup
    1993 VDQG
    1994 VDQG
    1994 FA Cup